Biên phòng - 12 giờ trưa, khi các con đã ngon giấc, đôi bàn tay gày gò của chị Tuyết lại cần mẫn vá từng chiếc áo cũ. Chốc chốc, quay sang nhìn lũ trẻ, ánh mắt âu yếm của chị vẫn không giấu nổi những lo toan. Niềm lo toan ấy có lẽ gấp đôi, gấp ba những người mẹ bình thường khác. Mỗi “thiên thần nhỏ” của chị là một số phận éo le. Nhiều em đã trưởng thành từ bàn tay chị, nhưng vẫn còn đó hàng chục em mới bập bẹ biết nói…
Tuổi xuân gửi lại chiến trường
Tiếp chúng tôi trong căn phòng nhỏ chừng 8m2 đơn sơ tại Làng trẻ em mồ côi Hà Tĩnh, giọng Tuyết chùng xuống, rồi nghẹn ngào đứt quãng khi nhớ lại những năm tháng chiến trường. Mười tám tuổi, cô gái nhỏ nhắn đất rừng Hương Khê (Hà Tĩnh) Nguyễn Thị Tuyết gia nhập quân ngũ.
Năm 1971 là thời điểm chiến tranh ác liệt tại miền Trung. Tuyết được điều vào Khe Sanh - Quảng Trị và chiến đấu hai năm trên mảnh đất bom đạn này. Khoảng thời gian không dài, những hậu quả của cuộc chiến thật khôn lường: Toàn bộ trung đoàn đều bị nhiễm chất độc da cam/dioxin mà không ai hay biết. Tuyết cũng vậy. Hai mươi tuổi, hoàn thành nhiệm vụ, Tuyết trở về Hà Tĩnh, cùng đồng đội tìm hạnh phúc trọn vẹn.
Thế rồi dần dần, Tuyết bàng hoàng nhận ra những người con của đồng đội mình khi sinh ra đều bị nhiễm di chứng dioxin. Tuyệt vọng khi biết mình cũng mang trong người chất độc ấy, chị quyết định không lập gia đình. Ở cái tuổi hừng hực sức xuân nhất của cuộc đời, chị chấm dứt giấc mơ phụ nữ bình dị: Được làm vợ, làm mẹ, được ấp ủ tổ ấm thân thương của mình.
Và mọi điều thay đổi, khi chị Tuyết nộp đơn tình nguyện làm mẹ nuôi tại Làng trẻ mồ côi Hà Tĩnh vào năm 1994 - sau khi làng thành lập không lâu. Nhắc đến làng trẻ và những đứa con thơ dại, ánh mắt chị ngời sáng. Giọng nói linh hoạt, chị say sưa kể về những người con mà mình chăm sóc từ ngày còn đỏ hỏn. Chị bảo, mỗi “thiên thần nhỏ” của chị là một câu chuyện cổ tích. Số phận của mỗi em khi sinh ra trên cõi đời này như được ông trời ban cho phép thần kỳ vậy...
Chuyện cổ tích giữa đời thường
Đứa bé nhỏ xíu đang ngủ ngon lành trong nôi có cái tên thật hay - Kiều May. Sinh ra nặng đúng 7 lạng, mình đầy lông lá, em bị bỏ rơi tại Trung tâm Y tế huyện Đức Thọ. Người ta giao em cho làng trẻ mồ côi khi em chưa thể mở được mắt. Chị Tuyết đã đón em trên tay. Dù chưa một lần mang nặng đẻ đau, nhưng thiên bẩm của người phụ nữ cho chị niềm tin rằng em sẽ sống. Cái tên Kiều May gửi gắm mong ước em sẽ xinh đẹp, may mắn. Liên tục nhiều tháng, chị ủ ấm May bằng hơi ấm của mình, xoa bóp toàn thân cho em. Ba tháng sau, May đã cân nặng 4kg. Em biết bú chóp chép ngon lành bình sữa tự tay chị pha, biết nhoẻn miệng cười khi chị âu yếm.
Kiều May chỉ là một trong những trang cổ tích cuộc đời chị Tuyết. Thủy Ngàn là một trường hợp đặc biệt khác. Cách đây 6 năm, một bác nông dân nhặt được đứa trẻ sơ sinh bên bờ ruộng, trong một hộp giấy cũ. Mở nắp hộp, người nông dân hoảng hốt khi nhận ra toàn thân của em bị chuột và kiến cắn bầm giập, tím tái. Đưa em vào bệnh viện, các bác sĩ không ai cầm được nước mắt khi cứ sát trùng vết thương của em đến đâu là giòi bò ra đến đấy. Một lần nữa, chị Tuyết lại mở rộng vòng tay yêu thương đón Ngàn. Cả tháng trời, đêm nào chị cũng thức trắng, ngồi một chỗ trên giường ủ ấm và chăm sóc em. Nhắc lại quãng thời gian ấy, chị nói đùa rằng mình không khác gì người “ở cữ”. Sức mạnh thần kỳ lại đến với đứa trẻ đáng thương ấy. Sau hai tháng, Ngàn hoàn toàn khỏe mạnh. Các vết thương liền sẹo rất nhanh và gương mặt bụ bẫm xinh xắn dần hiện ra. Năm em 4 tuổi, một gia đình người Mỹ đã xin em về nuôi. Đứa bé khóc ngằn ngặt khi rời tay mẹ Tuyết. Còn chị, sau lần ấy ốm liệt giường mất hai tháng trời vì nhớ quá đỗi hơi ấm của đứa con thân yêu.
Trong các “thiên thần nhỏ”, có lẽ Quốc Đạt là trường hợp éo le nhất. Lúc đón Đạt về, khuôn mặt em dị dạng ép thành hình chữ nhật, nằm nghiêng một bề, vòm họng bị dị tật, ăn đằng miệng ra hết đằng mũi. Các mẹ trong làng xác định sẽ nuôi em suốt đời. Chị Tuyết một lần nữa quyết tâm chăm bẵm em bằng cách riêng của mình. Ngày ấy, suất ăn một tháng của em chỉ có 150.000 đồng, số tiền không đủ để bồi dưỡng một đứa bé suy dinh dưỡng như em. Thế là ngày nào chị Tuyết cũng lặn lội ra đồng bắt từng con cua đồng, xay bột ngũ cốc, kiếm thêm lạc, vừng, đậu và các thứ rau làm thức ăn cho em. Chị bỏ tiền ra mua một loạt các sách và tạp chí nuôi dạy trẻ suy dinh dưỡng về nghiên cứu, áp dụng. Không hôm nào chị thôi xoa bóp đầu cho em. Hai tuổi, đầu em dần hết dị dạng, trở lại bình thường và có trí thông minh. Giờ đây, em đã có tổ ấm mới.
Chị Tuyết cười tự hào: Cứ đến 6 giờ chiều là “dàn đồng ca” nổi lên, đứa nào cũng hét toáng đòi bế khiến chị trở tay không kịp. Con của chị đủ mọi lứa tuổi. Nhiều em mồ côi, khi vào làng trẻ thì trộm cắp, thiếu lễ phép. Không dễ gì quản lý và uốn nắn tất cả các em. Thế nhưng, lúc nào chị Tuyết cũng tâm niệm một điều: Không bao giờ mắng chửi các em. Trong mọi hoàn cảnh, chị đều khuyên dạy các em bằng những lời nói nhẹ nhàng, chia sẻ. Chị bảo: “Các em đã không được sống trong sự yêu thương đùm bọc ngay từ khi mới lọt lòng, chị phải bù đắp được điều ấy”.
Hơn mười bốn năm gắn bó với làng trẻ, giờ đây đã sang tuổi 56, chị Tuyết lo lắng không còn nhiều sức khỏe để tiếp tục công việc. Ông Dương Quỹ Đạo, Giám đốc của làng trẻ chia sẻ: “Điều kiện sinh hoạt của làng trẻ còn rất nhiều hạn chế, nhưng chị Tuyết đã biết khắc phục và vượt lên hoàn cảnh để chăm sóc các cháu”. Hiện tại, cả làng đã có 17 người con lập gia đình, ai cũng có việc làm ổn định.
Ông Đạo còn tiết lộ với chúng tôi, trẻ con trong làng đều gọi chị Tuyết là “mẹ”. Chỉ duy nhất chị Tuyết có được niềm hạnh phúc này. Có lẽ, với những em nhỏ mồ côi nơi đây, được cất tiếng gọi “mẹ” là một điều rất thiêng liêng mà không phải ai cũng có thể tìm thấy ý nghĩa trọn vẹn của từ ấy. Tôi hiểu, hơi ấm của mẹ Tuyết đã sưởi ủ các em từ những ngày thơ dại. Bằng hơi ấm ấy, các em đã cất tiếng gọi “mẹ” như một lẽ tự nhiên nhất trên cuộc đời này.







