Biên phòng - Quá trình phát triển đất nước trong gần 30 năm qua đã chứng minh vai trò đặc biệt quan trọng của nông nghiệp trong phát triển kinh tế và đảm bảo ổn định kinh tế - xã hội. Đó là đảm bảo an ninh lương thực (ANLT), tạo việc làm và thu nhập cho 70% dân cư, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo nguồn cung thực phẩm dồi dào, góp phần tạo mức lương thấp để thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt, nông nghiệp là lĩnh vực duy nhất luôn có xuất siêu trong nền kinh tế. Không chỉ vậy, nông nghiệp luôn là bệ đỡ và là ngành cứu cánh cho nền kinh tế trong 3 cuộc suy thoái kinh tế lớn từ năm 1986 đến nay.
![]() |
| Đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Hà Giang thu hoạch lúa nước. Ảnh: N.B |
Kể từ khi đổi mới nền kinh tế, mặc dù chịu nhiều tác động bất lợi, ngành nông lâm nghiệp và thủy sản vẫn đạt mức tăng trưởng GDP khá ổn định, bình quân đạt 3,68%/năm trong giai đoạn 1986-2014. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản liên tục tăng với tốc độ bình quân 5,5%/năm trong cùng giai đoạn.
Trong đó, thủy sản tăng nhanh nhất với tốc độ 9,2%/năm, tiếp đó là nông nghiệp 5%/năm và lâm nghiệp 1,8%/năm. Nhờ tăng trưởng nhanh, nông nghiệp cung ứng đủ lương thực, thực phẩm, giúp đảm bảo ANLT và ổn định kinh tế - xã hội. Nếu như năm 1995, bình quân lương thực đầu người là 363,1kg/người, thì đến năm 2014, bình quân lương thực đã lên đến 553kg/người (tăng 1,5 lần). Những năm gần đây, không những đảm bảo ANLT trong nước, Việt Nam còn xuất khẩu trung bình từ 7 - 8 triệu tấn gạo hàng năm.
Trong gần 3 thập kỷ, nhờ ngành nông nghiệp tăng trưởng tương đối cao, Việt Nam được cộng đồng quốc tế nhìn nhận là một trong những quốc gia thành công nhất về xóa đói giảm nghèo và phát triển nông thôn. Phát triển nông nghiệp và tạo ngành nghề phi nông nghiệp đã góp phần tăng thu nhập tại nông thôn cao hơn tại thành thị trong thập kỷ qua, góp phần tích cực xóa đói giảm nghèo và từng bước thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.
Trong giai đoạn 2002 - 2012, tốc độ tăng thu nhập bình quân tại nông thôn là 19,1%/năm so với 17,5%/năm tại thành thị. Năm 1999, thu nhập đầu người tại thành thị gấp 2,3 lần so với thu nhập đầu người ở nông thôn; chỉ số này giảm xuống còn xấp xỉ 2 lần vào năm 2012. Thu nhập bình quân đầu người hộ nông thôn tăng từ 225 nghìn đồng/tháng vào năm 1999 lên 275 nghìn đồng/người/tháng vào năm 2002 lên khoảng 1,6 triệu đồng/người/tháng vào năm 2012.
Về cơ bản, Việt Nam đã xóa được đói. Công tác giảm nghèo được tập trung đẩy mạnh, hướng vào các đối tượng khó khăn vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc. Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm tương đối từ 44,9% năm 1998 xuống 21,2% năm 2004 và chỉ còn 9,8% năm 2013 .
Phong trào xây dựng nông thôn mới được phát động và lôi cuốn sự tham gia chủ động và tích cực của nhân dân và các cấp, các ngành ở nhiều địa phương. Qua 3 năm thực hiện chương trình đã có 185 xã đạt 19 tiêu chí. Cả nước đã có 93,1% số xã hoàn thành quy hoạch chung; 81% số xã phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới; có khoảng trên 9.000 mô hình sản xuất có hiệu quả, tăng thu nhập cho nông dân như sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị có ứng dụng công nghệ cao, cánh đồng lớn gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân. Thu nhập của dân cư nông thôn năm 2013 tăng hơn 1,8 lần so với năm 2010.
Đóng góp tích cực trong cán cân thương mại
Nhờ phát triển sản xuất và kinh doanh, nông nghiệp Việt Nam thực sự đã hướng về xuất khẩu. Năm 1986, giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản mới chỉ đạt 486,2 triệu USD thì đến năm 2000 lên tới 4,2 tỷ USD và đến năm 2014 vượt lên ngưỡng 30,86 tỷ USD, gấp gần 60 lần so với năm 1986. Tốc độ tăng trưởng giá trị kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản đạt trung bình 17,31%/năm trong giai đoạn 1986-2013.
Năm 2014, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 30,86%, tăng 11,2% so với năm 2013. Đã có 10 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD (gạo, cà phê, cao su, điều, tiêu, sắn, rau quả, tôm, cá tra, lâm sản). Đến năm 2013, Việt Nam đứng thứ nhất về xuất khẩu hồ tiêu (chiếm 14,3 % thị phần thế giới), thứ nhất về cà phê (chiếm 40% thị phần thế giới), thứ hai về lúa gạo (chiếm 12% thị phần), thứ hai về hạt điều (chiếm 9.5 % thị phần thế giới).
Xuất khẩu ròng của nông nghiệp đạt 16,1 tỷ USD trong năm 2013 và tăng lên 17,5 tỷ USD năm 2014. Nhờ những thành tích to lớn về xuất khẩu, nông nghiệp là ngành duy nhất luôn luôn xuất siêu, trong khi thương mại chung của Việt Nam thường xuyên nhập siêu. Xuất khẩu nông sản không những giúp cân bằng cán cân thương mại quốc gia mà còn tăng cường uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Đổi mới tổ chức sản xuất nông nghiệp
Kinh tế hộ nông dân được mở đường phát triển kể từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988). Tiếp theo đó, Nghị quyết Trung ương 6 (khóa VI, 1989), Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (1992), Nghị quyết Trung ương 5 và 7 (khoá VII) (1993, 1994) đã khẳng định coi kinh tế hộ là chủ thể độc lập trong sản xuất nông nghiệp. Tác dụng to lớn nhất, bao trùm nhất của những chủ trương, chính sách này là để hộ nông dân làm chủ ruộng đất, tự chủ trong sản xuất kinh doanh và kinh tế hộ thực sự đang đóng vai trò là đơn vị sản xuất chủ lực trong nông nghiệp.
Cùng với quá trình phát triển kinh tế, trong thời gian qua, tỷ lệ hộ nông nghiệp giảm dần từ 79,58% năm 1994, xuống còn 77,35% năm 2001 và còn 57,79% năm 2011. Hiện nay, kinh tế hộ đóng góp 90% vào phát triển các ngành nông nghiệp quan trọng của cả nước như lúa gạo, cà phê, chăn nuôi…
Nhờ kinh tế hộ phát triển, suốt 30 năm đổi mới, sức lao động trong sản xuất trong nông nghiệp được giải phóng. Người lao động có động lực để sản xuất, tăng năng suất, sản lượng cây trồng, đẩy lùi nghèo đói, nông thôn từng bước phát triển. Đến nay, kinh tế hộ vẫn đóng vai trò chính trong sản xuất nông nghiệp. Do đặc điểm nhỏ, gọn, gắn với xã hội cộng đồng nông thôn, kinh tế hộ rất linh hoạt trong sản xuất nông nghiệp, rất hiệu quả trong sản xuất thâm canh, khá nhạy bén trước tín hiệu thị trường và nhanh nhạy chuyển đổi ngành nghề, có khả năng tự túc và hỗ trợ lẫn nhau về tài nguyên và phòng tránh rủi ro.
Có thể nói, trong 30 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, góp phần lớn vào ổn định và phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, ngành nông nghiệp đang phải đối diện với những thách thức mới về bất ổn thị trường, cạnh tranh, biến đổi khí hậu.
Chính vì thế, trong thời gian để có thể duy trì và phát huy tốt vai trò của nông nghiệp, việc đảm bảo ANLT phải gắn với an ninh dinh dưỡng và phát triển bền vững. Thúc đẩy sản xuất phải gắn với tiêu thụ nông sản chất lượng cao và giá trị gia tăng cao. Đổi mới tổ chức sản xuất phải theo hướng phát triển chuỗi giá trị với vai trò trung tâm là doanh nghiệp, phát triển mạng lưới an sinh xã hội nông thôn để xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực tại các vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số cùng với thu hẹp chênh lệch thu nhập nông thôn - thành thị.








