Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 08:32 GMT+7

Ở chiến trường Điện Biên Phủ

Biên phòng - Cho đến lúc biết được Tướng Giáp đã có vũ khí nặng, người Pháp vẫn đánh giá sai về cỡ súng và số lượng pháo. Nhà sử học J.La-cu-tuya ở cùng với Bộ Chỉ huy Hà Nội nhận xét: Tướng Giáp có pháo binh rất mạnh mà không ai biết. Đó là những cỗ pháo Liên Xô, Trung Quốc.

21-1.jpg
Bộ đội ta áp giải tù binh trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
Trong một cuộc phỏng vấn chính thức, Tướng Giáp kể lại: Na-va ít ra cũng đã không quấy phá nổi pháo binh chúng tôi. Điều mà họ ngộ nhận là pháo binh Việt Nam còn yếu kém và không tiếp cận nổi Điện Biên Phủ. Người Pháp quá tin vào pháo binh hùng hậu và hảo hạng của họ; loại 105 ly họ có 28 khẩu. Tướng Giáp có khoảng 48 khẩu cỡ đó và hơn 150 pháo bắn đạn cháy, 200 con voi thép đã vượt qua 50 dặm đường cuối cùng trong rừng. Tướng Giáp kể: Bằng một cố gắng phi thường, không có gì khác ngoài mồ hôi và bắp thịt con người. Từng đoàn chiến sĩ quàng dây kéo vào pháo, thường xuyên gặp nguy hiểm qua bom đạn napal, đã nhích dần từng tấc một, nghĩa là độ nửa dặm mỗi ngày. Công trình này phải làm trong ba tháng trời.

Lúc này, Tướng Giáp đã có ít nhất tỷ số áp đảo 3/1 cả về hai mặt: Hỏa lực và quân số, pháo binh họ đã che mắt quân Pháp, thực sự là không sao phát hiện nổi, đã được giấu kín trong hầm hào đào vào các ngách dốc núi. Mọi hoạt động hối hả, hào đã leo dần tới đỉnh đồi. Ngược đời thay, khi đó quân Pháp lại đi phát quang, đốt rừng, đào hào, bộc lộ hết mọi hoạt động của họ. Trước chiến dịch, theo thói quen, Tướng Giáp đi quan sát chiến trường và phát hiện có cả thảy 49 cứ điểm mạnh thành 3 cụm phòng ngự chính được hỗ trợ cho nhau. Ngày 12-3-1954, Đại tá Đờ Cát-tờ-ri triệu tập các sĩ quan chỉ huy tới báo động về nguồn tin tình báo khẩn cấp: Cuộc tiến công của Tướng Giáp sẽ bắt đầu vào 5 giờ chiều ngày hôm sau.

Các sĩ quan cảm thấy an tâm, chờ điều sẽ xảy ra. Họ đang được tiếp tế tốt, kể cả 49.000 chai rượu vang! Cuộc đụng độ sẽ thoát ra trước hết khỏi vòng vây tinh thần, vì hình như ở Hà Nội bị xáo động hơn là ở đây.

Qua các tin tức báo chí, người ta đã nói đến chữ "tuyệt vọng". Giữa lúc đó, Tư lệnh Lục quân, Đại tá Pi-e Lang-le giận dữ về cái tít báo của tờ Le Figaro đã dám nói: "Họ sẽ bị kết liễu". Lang-le từng sống sót khỏi sa mạc Xa-ha-ra, cưỡi một con lạc đà, với một khẩu súng trong tay, đâu phải sinh ra để thành con người chiến bại. Ông đã sang Đông Dương ba lần thi hành công vụ. Giờ đây, ông đang tính toán đến sự ác liệt của mọi trận đánh.

Tại Hà Nội, Tổng Tư lệnh Na-va vẫn có cách nhìn sáng sủa. Ông nói: "Điều kiện quân sự đã hoàn toàn thay đổi, vì để triệu tập Hội nghị Giơ-ne-vơ, bên ngoài họ cần một Điện Biên Phủ được đánh giá như chiến dịch Xa-ha-ra". Đối với Na-va, chưa phải đã quá dài thời gian cho một cuộc nội chiến hỗn loạn. Cuộc chiến đã trở nên xung đột chủ yếu thay vì sự đối nghịch các hệ tư tưởng toàn cầu. Trong trường hợp như vậy, ông ta không muốn chờ đợi.

Viện trợ Mỹ khi đó có 1.400 xe tăng (vậy mà chỉ có 10 chiếc ở Điện Biên Phủ), 340 máy bay, 350 tuần tiễu, 240.000 cây súng nhẹ với 15 triệu viên đạn và nhiều viện trợ cho không lực của Na-va.

Thời điểm dự kiến cuộc tiến công của Tướng Giáp sẽ là 5 giờ chiều ngày 13-3, Đại tá Lang-le kể lại: "Đúng 5 giờ chiều, chẳng có gì xảy ra như dự đoán. Cho nên tôi cho tiến hành một trận pháo kích". Ông ta nói đến đấy rồi nheo mắt hồi tưởng lại. "Đúng lúc đó, 200 trái đạn của Tướng Giáp dội vào sân bay và khu trung tâm trên một mặt phẳng 5 dặm theo hình tam giác. Hàng rào đạn kéo dài một giờ đồng hồ cho tới lúc mặt trời lặn. Nó kéo dài như vô tận". Lang-le nhận xét: "Thật là vụ thảm sát". Loạt đạn đầu giết ngay thiếu tá chỉ huy khu trung tâm. Lang-le phải thay ông ta chỉ huy. Ông xác định pháo binh Pháp vẫn chưa định hướng nổi các cỗ pháo của Tướng Giáp, ngay cả lúc đầu nòng họ phát hỏa. Tướng Na-va tại Hà Nội theo dõi chặt chẽ đã tỏ ra kinh ngạc: "Mọi pháo thủ Pháp hay Mỹ đã từng quan sát Điện Biên Phủ, ngay cả người Mỹ đang ở đây đều nghĩ Việt Minh sẽ ở đằng sau các mỏm đồi nã pháo vào quân ta. Điều kinh ngạc nữa là làm sao họ mang nổi pháo lại gần hơn điều mà ta có thể nghĩ ra. Cách giải thích đó có nói lên sai lầm của pháo binh Pháp khi đánh giá tình hình và tôi cũng phải chịu trách nhiệm vì tôi là người chỉ huy cao nhất".

Ngay giờ đầu tiên, 500 lính Pháp đã tử trận trên quả đồi. Vào xế chiều, Việt Minh tung cả một sư đoàn bộ binh đánh chiếm Beatrice (Him Lam) -  điểm chốt trung tâm, đến nửa đêm thì Beatrice chỉ còn là một nấm mồ. Chỉ có 200 binh sĩ trong số 700 quân đồn trú thoát chạy. Sau đợt thảm sát đầu tiên, Tư lệnh pháo binh, Trung tá Sác-lơ Pi-rốt phải tự sát.

Những ngày sau, hai cứ điểm mạnh nữa là Gabrielle (Độc Lập) và Anne-Marie (Bản Kéo) còn yên ắng, đó là điều Tướng Giáp gọi "đội cảm tử" tới khóa chặt dải phòng ngự trung tâm. Những đội dũng sĩ tiếp cận uy hiếp Eliane 1 (A1).

Tại Hà Nội, khi vừa trở lại tiểu đoàn cũ, Bích-cát gói ghém hành lý sắp rời Đông Dương về Pháp. Sang ngày 16-3, Na-va cho gọi ông đến Sở chỉ huy ra lệnh: Bích-cát, anh phải trở lại ngay Điện Biên Phủ lần nữa! "Thưa tướng quân, xin sẵn sàng. Nhưng binh sĩ của tôi hầu hết đã mãn hạn. Xin trao cho tôi tiểu đoàn khác". "Không thể được, tiểu đoàn anh được huấn luyện tốt và họ phải ở lại với anh, cùng lên đường"... Bích-cát kể lại: "Mọi chuyện đều trở nên xấu đi. Không biết ai sẽ chỉ huy nơi đó. Ấn tượng tôi hoàn toàn chao đảo".

Ngày 16-3, Bích-cát cùng tiểu đoàn anh ta một lần nữa nhảy dù xuống. Số phận Sắc-lơ Pi-rốt có ảnh hưởng đến cả Bích-cát. Ông đánh giá con người đã chết một cách anh hùng: "Tôi biết ông ta là người có trách nhiệm và nghe ông ta nói chừng nào phát hiện được pháo binh họ, ông sẽ đè bẹp ngay. Nhưng không thể coi thường họ. Phải đổ 100 trái pháo vào vị trí đặt pháo của họ mà cũng không sao phá hủy nổi. Tướng Giáp chỉ ra lệnh tiến công khi mọi điều đã được tính toán đúng. Pi-rốt một con người thật thà đã tự kết liễu đời mình. Ông cầm trái lựu đạn rồi gục xuống ngay vị trí mình đứng".

Tại Điện Biên Phủ, Bích-cát nhìn thấy "một vị Tư lệnh không dám ló ra khỏi hầm trú ẩn", Đại tá Đờ Cát-tờ-ri. Khi đó, ông chưa được phong cấp tướng. Ông ta lúc nào cũng cạo râu nhẵn nhụi, chỉnh tề và hoàn hảo. Tôi gặp lại bạn cũ Lang-le đang chỉ huy các đơn vị phản kích. Nhưng Lang-le luôn năng động, con người sẵn sàng tiến công - chỉ có tầm nhìn của viên Trung úy, cho dù anh đã là Đại tá rồi.

Hành vi anh ta có cái gì đó huyền thoại giống như Bích-cát. Dù lai lịch họ khác nhau, cả hai lại có thể dễ hòa hợp. Lang-le và Đờ Cát-tờ-ri là hai anh bạn cùng học Đại học Quân sự Xanh-xia. Chưa bao giờ họ có lời thóa mạ nhau. Ba nhân vật nói trên thỏa thuận chung về quy tắc chỉ huy vì lợi ích của 15.000 con người đang bị vây hãm. Bích-cát nói: "Thực ra, Lang-le và tôi cùng chỉ huy, còn Đờ Cát-tờ-ri, ông ta dành quyền Tư lệnh chiến trường nên gọi tôi bảo: "Này Bru-nô, anh tiếp xúc với Lang-le thì nên xem xét lại vấn đề! Anh ta chỉ biết bảo vệ cứ điểm"...

Việt Minh lập tức lấn chiếm mạnh khu đông của Sở chỉ huy trung tâm. Bích-cát ra lệnh phát quang và chỉ huy phản kích bằng bộ binh, pháo binh, không quân. "Tôi cảm thấy Đờ Cát-tờ-ri tin cậy tôi, do đó vẫn giữ mãi kỷ niệm tốt đẹp về ông". Nhưng đây mới là giai đoạn đầu của chiến dịch. Bích-cát điều khiển cuộc chiến đấu trong 4 giờ. "Tôi có pháo bắn rất tốt, 2.000 trái đạn pháo rót vào một điểm. Khi không quân tới oanh kích, chúng tôi bắt đầu xung phong, cuộc chiến đấu kéo dài suốt ngày. Thực sự căng thẳng. Có thể chúng tôi diệt một tiểu đoàn đối phương. Đây là chiến công đầu tiên ở Điện Biên Phủ. Quân đội Việt Nam bị đẩy dãn ra".

Đờ Cát-tờ-ri thì nói: "Bru-nô, chỉ có cậu mới làm nổi việc này đấy". Tôi đáp: "Thưa Đại tá, chiến dịch hình như không tiếp tục nổi hằng ngày. Tôi đã mất những sĩ quan cừ nhất, cả trẻ lẫn cao tuổi. Nếu được, xin ngài bổ sung để có thể bắt đầu lại. Chúng tôi không sao chịu nổi quá lâu cái trò này được nữa rồi".

Nhưng làm gì còn lực lượng tiếp viện nữa! Ngày 27-3, sau khi cứ điểm then chốt mất và Eliane 1 thất thủ, Việt Minh pháo kích phong tỏa đường băng chính. Nước Pháp ở Điện Biên Phủ từ nay bị chia cắt khỏi thế giới, chỉ trừ vài chuyến thả dù tiếp tế chẳng lấy gì làm chắc chắn cả. Sĩ khí quân đội còn chưa giảm sút. Theo lời Lang-le: "Đây chưa phải là trận kết thúc cho chính tôi hay đồng đội. Chưa có nghĩa là đã chấm dứt. Nếu không hạ cánh được máy bay, vẫn còn lại khả năng thả dù. Tôi vẫn chưa cho việc sân bay bị đóng cửa là thảm họa có liên quan đến trận chiến đấu tới!".

Tuy nhiên, sự chịu đựng đã quá mức rồi. Thương binh không thể để lại quá lâu không chuyển đi. Khi máy bay cứu thương trúng đạn, các thương binh nặng mắc kẹt hết. Trong số họ duy nhất có một phụ nữ: Cô y tá Gen-ne-vi-vờ Đờ Ga-lát. Cô nói: Thương binh vẫn hy vọng chỉ còn lại những ngày cuối với họ ở Điện Biên Phủ, chấm dứt với cái địa ngục này. Hầm cứu thương dã chiến có 40 giường, chỉ có 4 thầy thuốc dành cho 12.000 người không còn hy vọng gì sống sót, chứ chưa nói là cứu chữa nổi thương binh. Bắt đầu phải đào thêm hầm cứu thương, đặt thương binh sát vách hào. Ba tuần lễ tham gia vào các vụ phẫu thuật, cô Gen-ne-vi-vờ không hề ra khỏi hầm. "Tôi ngủ trên ván, sáng đến gập lại và tối lại giở ra nằm". Cô gái cưng của bá tước Ô-gơ Đờ Ga-lát Te-rô-bờ định noi gương vị thánh của 5 thế kỷ trước, nữ thánh Jean d'Are đi theo đoàn thập tự quân. Cô nói, họ quên tên tôi, có lúc chỉ kêu: Này cô gái ơi! Chưa có ai gọi tôi là "thiên thần" như có người từng nói đến. Có thể đây là do sự tưởng tượng của cái anh nhà báo Mỹ nào đó mà thôi!
(Còn nữa)
Mai-cơn ma-cờ-lia (Người dịch - L.T)

Bình luận

ZALO