Biên phòng - Một quốc gia khi xác lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ phải thể hiện đầy đủ tính chất về mặt Nhà nước. Có nghĩa là, Nhà nước đó có ban hành văn bản, chính sách và tổ chức quản lý hành chính vùng lãnh thổ đó hay không, khi nó chưa thuộc chủ quyền của bất kỳ một quốc gia hay vùng lãnh thổ nào, đồng thời cách thức xác lập chủ quyền phải được thực hiện bởi tổ chức hành chính trực thuộc Nhà nước. Xét về khía cạnh này, Việt Nam là quốc gia duy nhất trong khu vực biển Đông đáp ứng đầy đủ tính chất về xác lập chủ quyền và khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
| |
| Ngư dân Việt Nam vươn khơi khẳng định chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. |
Tiếng nói từ lịch sử
Thực tế cho thấy, quá trình hoạch định và triển khai chính sách về biển của Nhà nước Việt Nam qua các triều đại phong kiến đã được thể hiện rõ nét trong suốt mọi giai đoạn lịch sử, nội dung đó đã hình thành và liên tục được kế thừa. Theo Giáo sư Phan Huy Lê: "Việt Nam trong thời kỳ Lê-Trịnh (1592-1788), đã chứng kiến sự mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam của nhà Nguyễn ở Đàng Trong. Trong thời kỳ này, chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được xác lập và đi vào quản lý, khai thác một cách đồng bộ, vừa mang tính dân sự, vừa mang tính quân sự". Lê Quý Đôn cũng đã từng đề cập về Hoàng Sa dưới thời Chúa Nguyễn trong Phủ biên tạp lục, biên soạn năm 1776 như sau: "Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi giáp liền với biển. Ở vùng biển xa về phía Đông Bắc có nhiều đảo núi, các núi lẻ tẻ kế tiếp nhau nhiều đến hơn 130 ngọn. Giữa các ngọn núi là biển, đảo xa cách nhau hoặc là đi một ngày đường hoặc là đi hết mấy canh giờ. Trên núi có suối nước ngọt, trong các đảo có Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) dài khoảng hơn 30 dặm, rộng lớn bằng phẳng, nước trong vắt nhìn tận đáy...". Sách Đại Nam thực lục chính biên cũng ghi rất rõ cách đo đạc, vẽ bản đồ tại quần đảo Hoàng Sa: "Không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào, khi thuyền đi đến, cũng xem xét xứ ấy chiều dài, chiều cao, chiều rộng, chu vi và nước biển bốn xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ". Dưới triều Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa được đưa vào sách giáo khoa để dạy cho học sinh, chứng tỏ triều đại này rất chú trọng việc giáo dục ý thức chủ quyền biển đảo, chủ quyền quốc gia cho thế hệ trẻ đương thời.
Chủ quyền 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa còn được thể hiện trong các gia phả của các dòng tộc. Theo gia phả của dòng họ Phạm ở Lý Sơn ghi rằng: 200 năm trước, Cai đội Phạm Quang Ảnh cùng 70 suất lính với 5 chiến thuyền làm nhiệm vụ canh giữ vùng biển và đo đạc thủy trình, tìm kiếm, khai thác những sản vật quý cung tiến triều đình. Rồi một lần, Cai đội Phạm Quang Ảnh cùng hải đội của ông gặp bão biển và không trở về. Vua Gia Long thân chinh ra tận Lý Sơn làm lễ chiêu hồn cho các tử sĩ. Chính sử cũng đã nhắc tên vị cai đội này trong Ðại Nam thực lục chính biên: "Tháng Giêng năm Ất Hợi (1815), sai bọn Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra đảo Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy trình". Điều đáng nói hơn, các văn bản, tài liệu trên đều tồn tại và ban hành từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, khẳng định Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền liên tục đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
| |
| Theo Bộ Atlas Thế giới Bruxelles-1827, cực Nam của Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam. |
Chủ quyền được quốc tế thừa nhận
Mới đây, hàng loạt các bản đồ cổ có uy tín trên thế giới do các nhà địa lý, sử học biên soạn và sưu tầm còn lưu giữ, đều thể hiện Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Cho tới thời điểm này, Việt Nam đã công bố gần 200 tấm bản đồ trong nước và quốc tế, khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Thậm chí, Việt Nam vừa tiếp nhận và công bố Bộ Atlas thế giới Bruxelles - 1827. Bộ Atlas này gồm 6 tập khổ lớn do nhà Địa lý học Phi-líp Van-đơ-mi-lăng (1795-1869), người sáng lập Viện Địa lý Hoàng gia Bỉ, xuất bản năm 1827. Được vẽ thống nhất theo tỉ lệ 1/1.641.836, kích thước 53,5x37cm. Gần 200 năm nay, bộ Atlas này đã trở nên nổi tiếng, được khai thác sử dụng ở nhiều nước trên thế giới. Bộ Atlas không chỉ khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách rõ ràng, chi tiết và chính xác, mà một lần nữa khẳng định cực Nam của Trung Quốc giới hạn ở đảo Hải Nam.
Ngay cả những bản đồ cổ xưa của người Trung Quốc cũng "chống lại" các tuyên bố chủ quyền vô lý của họ. Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ là một tấm bản đồ được đích thân các Hoàng đế nhà Thanh từ Khang Hy cho đến Quang Tự huy động lực lượng giáo sĩ và những người tài giỏi về thiên văn, toán pháp thực hiện trên cơ sở tập hợp tư liệu từ các đời Tần, Hán và được tiến hành liên tục trong gần hai thế kỷ (1708-1904), do Nhà xuất bản Thượng Hải in năm 1904, rồi đến Đại Thanh đế quốc toàn đồ vẽ năm 1905 (Nhà xuất bản bản đồ Tây An tái bản năm 1995 trong Trung Quốc cổ địa đồ trân tập), cũng chỉ rõ cương giới phía Nam của Trung Quốc trên hai bản đồ này cũng chỉ tới đảo Hải Nam. Điều thú vị hơn là, trong chuyến thăm Cộng hòa Liên bang Đức vừa qua, ngày 28-3, Thủ tướng Đức An-giê-la Méc-ken đã tặng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tấm bản đồ Trung Quốc in năm 1735, trên đó, biên giới Trung Quốc chỉ tới đảo Hải Nam.
Vừa qua, ngày 14-5-2014, tại Hội nghị toàn thể lần thứ 6 Ủy ban Chương trình Ký ức thế giới (UNESCO) khu vực châu Á - Thái Bình Dương tổ chức ở Quảng Châu (Trung Quốc), hồ sơ Châu bản triều Nguyễn đã chính thức được công nhận là Di sản tư liệu thế giới. Châu bản triều Nguyễn là các văn bản hành chính do các cơ quan chính quyền triều Nguyễn từ Trung ương đến địa phương soạn thảo, dâng tấu lên nhà vua; sau đó, nhà vua "ngự phê" bằng mực màu son để truyền đạt ý chỉ. Đây là một loại tài liệu quan trọng vì nó mang bút tích của nhà vua, được bảo quản trong các kho lưu trữ của cung đình, nội dung liên quan đến hầu hết các hoạt động triều chính. Trong số các Châu bản triều Nguyễn được lưu trữ, có nhiều Châu bản có nội dung liên quan đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây không chỉ là bằng chứng hùng hồn về chủ quyền biển đảo Việt Nam, mà còn ghi đậm dấu ấn chính sách của triều Nguyễn về vấn đề chủ quyền biển, đảo.







