Biên phòng - Mô hình "Kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới" đã phát huy truyền thống đoàn kết giữa nước ta và các nước có chung đường biên giới, cũng như mối quan hệ thân tộc, đồng tộc giữa bà con hai bên biên giới, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, các lực lượng bảo vệ biên giới, tôn trọng độc lập chủ quyền của mỗi nước, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định lâu dài, hợp tác cùng phát triển giữa Việt Nam và các nước láng giềng.
| |
| Ngày 24-12-2013, tại thôn Lao Chải (xã Y Tý, huyện Bát Xát, Lào Cai), Trưởng thôn Lao Chải và Trưởng thôn Địa Tây Bắc (Ma Ngan Tý, Kim Bình, Vân Nam, Trung Quốc) ký kết Biên bản kết nghĩa. Ảnh: Trung Dũng |
Bên cạnh đó, nhân dân hai bên biên giới đa số có mối quan hệ dân tộc, thân tộc, dòng họ từ nhiều đời nên quan hệ của họ rất gắn bó. Trước đây, bà con ở cùng một xã, một thôn bản, sau phân định, cắm mốc biên giới bị chia ra hai bên. Trong khi đó, một bộ phận nhân dân nhận thức về quốc gia, quốc giới còn hạn chế nên việc qua lại thăm thân, xâm canh, xâm cư, kết hôn hai bên biên giới, chôn cất mồ mả, chăn thả gia súc; cho, chuyển nhượng, mua bán đất đai chưa tuân thủ quy định của pháp luật mà chỉ theo luật tục, thói quen, phong tục tập quán. Một số tệ nạn xã hội khác như rượu chè, cờ bạc, trộm cắp... làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp, gây ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh trật tự ở khu vực biên giới, công tác quản lý, bảo vệ biên giới của hai nước.
Ngày 4-1-2005, lễ kết nghĩa đầu tiên được tổ chức giữa bản Ka Tăng, thị trấn Lao Bảo, Hướng Hóa, Quảng Trị (Việt Nam) với bản Đen-sa-vẳn, huyện Sê-pôn, tỉnh Sa-vẳn-na-khệt (Lào) với tên gọi "Kết nghĩa bản - bản hai bên biên giới". Quảng Trị là địa phương đi đầu trong phong trào này với việc hoàn thành kết nghĩa 23 cặp thôn, bản với hai tỉnh Sa-la-van và Sa-vẳn-na-khệt của Lào vào tháng 9-2010. Sau khi kết nghĩa, cấp ủy, chính quyền địa phương hai bên biên giới với sự tham mưu tích cực của Bộ đội Biên phòng (Việt Nam) và lực lượng bảo vệ biên giới (Lào) đã thường xuyên hướng dẫn các Ban điều hành của các cặp bản kết nghĩa duy trì tốt nề nếp giao ban, trao đổi tình hình, đôn đốc thực hiện các nội dung đã ký kết.
Nhận thức được sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia là sự nghiệp của toàn dân, từ thành công của mô hình này trên tuyến biên giới Việt - Lào, Bộ Tư lệnh BĐBP đã rút kinh nghiệm và nhân rộng trên toàn tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc và Việt Nam - Cam-pu-chia. Trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc, Lào Cai là địa phương đầu tiên tổ chức kết nghĩa với các địa phương bạn. Ngày 17-8-2013, đã diễn ra lễ kết nghĩa giữa thôn Cốc Phương, xã Bản Lầu, huyện Mường Khương và tổ Tam Bình Bá, thôn Long Bảo, thị trấn Nam Khê, huyện Hà Khẩu, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Trên tuyến biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, các tỉnh Gia Lai, Long An, An Giang, Kiên Giang cũng đã tổ chức các hoạt động kết nghĩa thôn, bản với các địa phương của bạn. Từ đây, đã có nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo, đạt được nhiều kết quả thiết thực. Tại Quảng Trị, 100% thôn, bản giáp biên giới của tỉnh đã ký "cam kết tự quản đường biên, cột mốc", "cam kết tự quản an ninh trật tự khu vực biên giới". Những hộ đã ký cam kết, địa phương trao quyết định tạm giao đất, giao rừng cho họ canh tác, bảo vệ trên đường biên. Việc tuyên truyền cho nhân dân về chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, cũng như các hiệp định, quy chế biên giới đã được ký kết giữa nước ta và các nước bạn... cũng được lồng ghép vào trong các hoạt động giao lưu văn hóa, chúc Tết, qua lại thăm thân, mua bán hàng hóa...
| |
| Ngày 24-6-2013, thôn Đắk Ung, xã Đắk Nhoong, huyện Đắk Glei, tỉnh Kon Tum tổ chức kết nghĩa với bản Brông Nọi, cụm Đắk Ba, huyện Đắk Chưng, tỉnh Sê Kông (Lào). Ảnh: Lê Đồng |
Qua các hoạt động kết nghĩa, nhận thức của đồng bào các dân tộc sống hai bên biên giới về chủ quyền lãnh thổ, ý thức quốc gia, quốc giới, cũng như việc chấp hành các quy định của Hiệp định về quy chế biên giới, pháp luật của mỗi nước được nâng lên rõ rệt. Nhân dân hai bên biên giới cũng có nhiều thuận lợi trong việc giao lưu văn hóa, qua lại thăm thân, mua bán, trao đổi hàng hóa, giúp nhau phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội; hỗ trợ nhau về lực lượng lao động, giống cây trồng, vật nuôi, kinh nghiệm làm ăn, ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật vào sản xuất; hoặc giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn như phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, khám chữa bệnh... từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần. Qua đó, góp phần giữ vững ổn định chính trị ở khu vực biên giới, thắt chặt tình đoàn kết, gắn bó keo sơn giữa hai nước và nhân dân hai bên biên giới; đồng thời giúp cấp ủy, chính quyền hai bên nắm bắt và giải quyết kịp thời các vụ việc xảy ra trên biên giới.
Sau gần 10 năm thực hiện, mô hình "Kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới" đã tạo chuyển biến quan trọng trong nhận thức của các cấp, các ngành và nhân dân hai bên biên giới về chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, nhằm phát huy sức mạnh quần chúng trong xây dựng, quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới của mỗi nước. Các hoạt động đối ngoại biên phòng, đối ngoại nhân dân đã được tăng cường và mở rộng cả về hình thức lẫn nội dung nhằm xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Có thể khẳng định, mô hình "Kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới" thể hiện sự sáng tạo trong công tác đối ngoại biên phòng của lực lượng BĐBP trong tình hình mới.







