Biên phòng - Công tác chỉ đạo đối phó và khắc phục hậu quả lũ quét, sạt lở đất đã được Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền địa phương quan tâm, nhưng, ở nhiều địa phương kết quả vẫn chưa đạt được như mong muốn. Theo Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão (PCLB) Trung ương, lũ quét, sạt lở đất thường xảy ra với quy mô không lớn nhưng khó dự báo chính xác. Do đó, trong thời gian tới, công tác phòng tránh lũ, lũ quét, sạt lở đất các địa phương phải tập trung theo hướng lấy phòng ngừa là chính.
| |
| Nhà dân tại tỉnh Quảng Ninh bị ảnh hưởng do mưa lũ. Ảnh: Vũ Hiệp |
Thiệt hại do lũ quét, sạt lở đất không giảm
Số liệu thống kê của Ban chỉ đạo PCLB Trung ương cho thấy, từ năm 2000 đến 2014, nước ta đã xảy ra 250 đợt lũ quét, sạt lở đất, đá ảnh hưởng tới các vùng dân cư, làm chết và mất tích 646 người, bị thương gần 351 người. Các địa phương thường xuyên xảy ra lũ quét, sạt lở đất nhất bao gồm: Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Bắc Cạn, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Bình Thuận. Tổng thiệt hại do lũ quét, sạt lở đất ở các địa phương ước tính trên 3.300 tỷ đồng.
Đáng chú ý là vẫn còn tình trạng người chết do lũ quét, sạt lở đất và lũ xảy ra sau bão ở nhiều địa phương. Điều này xuất phát từ tâm lý chủ quan, bất cẩn của một bộ phận người dân cũng như công tác tuyên truyền, vận động, kiểm tra, giám sát của chính quyền các cấp, nhất là ở cấp cơ sở chưa sâu sát, thiếu kiên quyết. Đơn cử, mưa lũ sau bão số 15 năm 2013 làm 47 người chết và mất tích, trong đó do lũ cuốn trôi là 38 người. Mới đây nhất, mưa lũ và sạt lở đất sau bão số 2 năm 2014 làm 32 người chết và mất tích, trong đó, có 21 người chết, mất tích do lũ, 7 người chết do sạt lở đất.
Theo đánh giá của các cơ quan chức năng, thiệt hại do lũ quét, sạt lở đất chủ yếu do các nguyên nhân khách quan như cường độ mưa lớn, trong một thời gian ngắn tại những khu vực có độ dốc cao, tốc độ dòng chảy mạnh, sức tàn phá lớn. Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp, thiệt hại xảy ra là do tác động của hoạt động phát triển kinh tế, do sự chủ quan, bất cẩn, thiếu hiểu biết về thiên tai như: Bạt núi mở đường chưa đáp ứng độ ổn định, tạo nguy cơ sạt trượt; làm ngầm, cầu qua sông, suối gây cản trở, ách tắc đường thoát lũ; xây nhà ở khu vực khe suối, sườn dốc, chân đồi, núi... Bên cạnh đó, không ít người bị thiệt mạng do bất cẩn khi qua sông, suối, ngầm, vớt củi trong mưa lũ...
Ưu tiên vốn cho công tác di dân
Trong những năm qua, các địa phương đã triển khai nhiều chương trình, dự án bố trí dân cư các vùng thiên tai, di dân tái định cư, di dân ra biên giới, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nhà an toàn trong vùng lũ, bão, nâng cao nhận thức của người dân và quản lý rủi ro thiên tai ở cộng đồng. Theo báo cáo của Ban chỉ đạo PCLB Trung ương, giai đoạn 2006-2013, cả nước bố trí ổn định khoảng 171.497 hộ thuộc Chương trình bố trí dân cư các vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng. So với mục tiêu chương trình đề ra đến năm 2015 tại Quyết định số 193/2006/QĐ-TTg, kết quả này đã vượt 14%, trong đó đã bố trí được 71.413 hộ ở các vùng có nguy cơ về sạt lở đất, lũ ống, lũ quét, ngập lũ, sụt lún đất. Riêng khu vực miền núi phía Bắc đến Nghệ An bố trí được 26.591 hộ.
Năm 2014, đã có 16 tỉnh, thành phố khu vực miền núi phía Bắc xây dựng phương án phòng tránh lũ quét. Một số địa phương chủ động lập bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai, đào tạo, tập huấn về thiên tai cho các cộng đồng. Ngoài ra, một số tỉnh cũng đã tổ chức diễn tập ứng phó với thiên tai tại cộng đồng; chuẩn bị nhân lực, phương tiện tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn, dự trữ nhu yếu phẩm, thuốc men và khắc phục hậu quả sau lũ quét nhanh nhất.
Tuy nhiên, công tác phòng chống lũ quét, sạt lở đất vẫn còn nhiều hạn chế. Số người chết do lũ quét, sạt lở đất không giảm. Việc cảnh báo, phân vùng nguy cơ lũ quét độ chính xác còn hạn chế nên chưa thể sử dụng để quy hoạch cũng như chỉ đạo, điều hành phòng tránh. Công tác thống kê, di dời dân sống ở khu vực dễ bị ảnh hưởng trực tiếp của lũ quét, thiên tai còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là thiếu quỹ đất tại các khu vực vùng núi cao. Ngoài ra, do tập quán và điều kiện sinh sống ở nơi cư trú mới không phù hợp nên nhiều hộ dân không chịu di chuyển. Trong khi đó, kinh phí cho các dự án di dân vùng thiên tai chưa đáp ứng so với nhu cầu, nhiều dự án bị kéo dài, hiệu quả thấp.
Khắc phục những tồn tại trên, Ban chỉ đạo PCLB Trung ương đề xuất Chính phủ quan tâm chỉ đạo ưu tiên bố trí vốn để hỗ trợ cho các địa phương sớm hoàn thành kế hoạch di dời, sắp xếp ổn định đời sống nhân dân vùng thường xuyên xảy ra thiên tai và vùng có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất. Đồng thời, đẩy nhanh tiến độ các chương trình di dân vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, di dân tái định cư, chương trình hỗ trợ người nghèo, phân vùng và xây dựng hệ thống cảnh báo đối với các khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất.
Ban chỉ đạo PCLB Trung ương cũng cho rằng, lũ quét, sạt lở đất khó dự báo chính xác. Do đó, công tác phòng chống lũ quét, sạt lở đất phải tập trung theo hướng lấy phòng ngừa là chính. Xuất phát từ đặc điểm tình hình cụ thể của từng địa phương, trong thời gian tới, các tỉnh, thành cần có nhiều biện pháp sát đúng để thực hiện có hiệu quả Luật Phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, Chiến lược Quốc gia về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai. Đồng thời, các địa phương cần nâng cao nhận thức cho người dân về phòng tránh thiên tai và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng...







