Biên phòng - Nghề dệt thổ cẩm của đồng bào các dân tộc miền núi tỉnh Phú Yên đã có từ lâu đời. Các nghệ nhân xưa kia đã dày công sáng tạo một nghề dệt tạo hình độc đáo.
![]() |
| Các thiếu nữ Ba Na làng Xí Thoại với trang phục thổ cẩm của bà Minh. |
Hơn 50 năm gắn bó nghề dệt vải thổ cẩm, bà Minh vẫn canh cánh một nỗi lo: "Lũ trẻ bây giờ ít chịu khó, chúng nó "cà trớt" lắm, coi dệt thổ cẩm là công việc "lẩm cẩm" của người già. Chúng chỉ biết làm thật nhiều tiền, ra chợ chọn vải, muốn may hoặc mua mặc tùy thích. Bởi, chúng quen với kiểu ăn mặc hiện đại, vừa tiện lợi, mặc vào nhẹ người, vừa không phải bó buộc, nóng nực như mặc thổ cẩm. Hơn nữa, dệt thổ cẩm là một công việc rối rắm, phức tạp, ai thiếu kiên nhẫn thì không làm được".
Bà nhớ lại, cái thời chạy giặc, chống càn "ăn ở rừng rú", nay đây mai đó, không có sợi, có khung để dệt vải. Dân làng mình khổ ơi là khổ! Có người chỉ còn một bộ áo váy trên người; mỗi lần tắm táp thay đồ, phụ nữ phải chờ trưa nắng, ra sông suối, tìm một chỗ vắng người để giặt giũ, rồi dìm mình trong nước, phơi quần áo trên những tảng đá, chờ khô để mặc vào đi làm. Mùa đông, chờ đêm về giặt quần áo hong trên ngọn lửa.
Sau giải phóng năm 1975, thấy dân làng cơ cực quá, bà đã bàn với một số chị em biết nghề, gây dựng lại các khung dệt; nhờ người xuống phố mua các loại chỉ, bắt tay vào việc đan dệt. Nhờ đó, dân làng cũng tạm giải quyết được cái gọi là "mặc ấm".
Mãi cho đến năm 1998, khi cả làng thi nhau xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, thực hiện chủ trương bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc; rồi làng được ngành văn hóa chọn phục dựng lễ hội "Đâm trâu", xoay cột. Để có đủ trang phục truyền thống cho nam thanh, nữ tú của làng vào hội, bà và nhiều chị em khác đã ngồi dệt ròng rã cả tháng mới xong hàng chục bộ váy áo thổ cẩm cho đội múa cồng chiêng.
Sau này, mỗi lần đội văn nghệ cồng chiêng, trống đôi của làng Xí Thoại được tỉnh, huyện chọn tham dự các cuộc liên hoan lớn ở TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Tây Nguyên... cũng sử dụng trang phục đó để mà khoe cái đẹp! Lúc này, lũ trẻ của làng mới cảm thấy tự hào, thấy được giá trị cái đẹp bản sắc của dân tộc mình! Cả làng hiện nay còn hàng chục khung dệt đang hoạt động cũng từ đó mà ra!
Bà Minh kể rằng, ông bà mình ngày xưa làm nên tấm vải thổ cẩm là cả một kỳ công. Thời ấy, sợi dệt thổ cẩm nguyên liệu chính là những cây bông vải trồng trên nương. Từ những múi bông trắng tinh, phụ nữ Ba Na, Chăm phải nhọc công cho việc bắn bông kéo sợi; dùng vỏ cây lộc vừng nhuộm thành màu nâu, vỏ cây bút tạo màu đen... thời gian làm được cuộn sợi phải mất một mùa rẫy. Nhưng cái khổ công, nhọc nhằn của nghệ nhân dệt thổ cẩm mới là điều đáng kể!
Người Kinh cũng dùng sợi dệt thành những tấm vải, cắt ra từng mảnh ráp may thành bộ, nhuộm màu gụ, màu chàm rồi mới thêu ren làm đẹp. Còn nghệ nhân dệt thổ cẩm làm nên chiếc khố, tấm váy mọi việc phải được tính toán cùng lúc và ngay từ đầu khi căng khung dệt. Đó là việc phải tính toán kích cỡ người mặc, hoa văn trên từng mặt vải (dây thắt lưng, đệm mông, hoa văn mặt trước, mặt sau...), trải qua nhiều khâu, nhiều công đoạn, phức tạp. Có nghĩa là một nghệ nhân vừa là người thiết kế tạo mẫu hoa văn, đồng thời, họ vừa là thợ dệt, thợ may, thêu ren... tất cả được làm nên bằng trí tưởng tượng. Trên khung cửi hàng ngàn sợi chỉ được căng thành thảm dọc, từng sợi một luồn theo hàng ngang, tạo nên tầng tầng, lớp lớp hoa văn, họa tiết mà không phải nhìn vào hình mẫu có sẵn.
Để tạo những khuôn hoa văn, người dệt phải thuộc làu trong trí nhớ những công thức nhất định về trật tự màu sắc, từ các sợi dài hợp thành thảm dọc để quá trình đan các dải sợi ngang, hoa văn sẽ hiện lên. Các kiểu mô típ, hoa văn gần gũi với đời sống thiên nhiên được hình tượng hóa thành dãy núi chập chùng, sông suối uốn lượn chảy, da rắn, tổ ong, chim cá, nụ hoa... với lối cách điệu, hình học hóa thành những dải đồ đậm nhạt như công nghệ in, dệt nên những tấm vải như tranh vẽ. Điều thú vị là, những người nắm giữ công thức tạo hình chỉ là những phụ nữ đã lớn tuổi và không hề biết chữ.
Bà La Lan Thị Minh học dệt từ năm 10 tuổi, năm 15 tuổi, bà đã biết dệt thành thạo. Giờ tuy tuổi đã cao, nhưng trí tuệ của bà vẫn còn minh mẫn, hằng ngày, bà vẫn cần mẫn bên khung dệt, nắm giữ trong mình hàng trăm công thức, kiểu cách cài đặt hoa văn. Biết bà là người có thâm niên trong nghề, cách đây 5 năm, trường dạy nghề huyện có tổ chức và mời bà tham gia các lớp truyền nghề dệt thổ cẩm cho học sinh trường dân tộc nội trú và trong các buôn làng. Nhưng tổng kết lại cũng chỉ như "nước đổ lá môn", không có mấy người thành nghề và say mê với cái nghiệp dệt thổ cẩm. Lòng bà vẫn đau đáu một nỗi niềm, vì hiện thời trong làng ngày càng ít các thiếu nữ theo bà học nghề dệt thổ cẩm.







