Biên phòng - Năm 1558, sau khi Nguyễn Kim bị đầu độc, Nguyễn Hoàng - con trai của Nguyễn Kim sợ anh rể là Trịnh Kiểm ám hại đã đến hỏi Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm kế sách dung thân. Bỉnh Khiêm không đáp mà chỉ vào non bộ trước sân nhà, ngâm câu thơ "Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (Một dãy Hoành Sơn dung thân muôn đời).
![]() |
| Bia tưởng nhớ Lũy Thầy Đào Duy Từ tại cửa sông Nhật Lệ. |
Quảng Bình vốn là vùng đất hẹp, núi đồi chiếm 85% diện tích, còn lại là đồng bằng và ven biển cũng bị gió cát xâm nhập, thiên nhiên không mưa thuận, gió hòa, không có những vật ngon của lạ, một xứ sở chưa có kỳ sơn thủy tú đặc biệt. Nhưng nơi nào trên đất Quảng Bình cũng có một địa thế riêng, có núi sông riêng và đều có khí thiêng liêng, anh linh riêng, phong hóa riêng làm cho con người Quảng Bình hòa quyện với quê hương mình, bằng lòng yên vui, yêu quý với những gì mà Tổ quốc dành cho, có trách nhiệm trước sự tồn vong, suy, thịnh đối với nơi mình sinh ra, lớn lên, quyết tâm chiến đấu bảo vệ và xây dựng quê hương.
Những năm tháng đầu khi có danh xưng Quảng Bình thì nơi đây đã trở thành chiến địa của thời Trịnh - Nguyễn. Năm 1620, chúa Trịnh đem quân vào đánh ở cửa sông Nhật Lệ. Đây là trận đánh đầu tiên do mối bất hòa giữa hai họ Trịnh - Nguyễn. Năm 1627, quân Trịnh có vua Lê Thánh Tông đi theo tiến vào cửa Nhật Lệ, quân nhà Nguyễn cố thủ, quân Trịnh tiến đánh mấy đợt không thắng đành rút lui. Giữa lúc tình hình căng thẳng, Nguyễn Phúc Nguyên lo lắng, tìm kế hoạch lâu bền để đối phó với tình hình thì có sự xuất hiện của Đào Duy Từ.
Đào Duy Từ, người xã Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn (nay là huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa). Ông sinh năm 1572, mất năm 1634, thọ 63 tuổi. Ông học rộng hiểu biết nhiều, nhưng vì là con của nhà phường hát nên chúa Trịnh không cho thi, ông đã vào Đằng Trong tìm chúa Nguyễn.
Đào Duy Từ được Nguyễn Phúc Nguyên giao trọng trách trông coi mọi việc quân cơ trong và ngoài cõi tham lũy quốc chính, tước lộc khê hầu. Từ đó, ông đem hết tài năng, sức lực ra giúp nhà Nguyễn. Việc đầu tiên ông xin hiến một bản đồ, sai quân hai trấn đắp một lũy đài từ núi Trường Dục đến bãi Hạc Hải. Ấy là nhân hình thế đất đai mà đắp phòng thủ để giữ yên biên giới thì quân địch có tới cũng không làm gì được. Người xưa có câu "Không một lần khó nhọc thì không được nghỉ yên dài, không hao phí tạm thời thì không yên nghỉ mãi mãi".
Chúa Nguyễn y theo, lũy đắp vài tháng thì xong, gọi là lũy Trường Dục (nay thuộc huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình). Lũy xây theo kiến trúc chữ "Hồi" nên gọi là lũy Hồi Văn, ngoài khung thành bao bọc, trong là doanh trại, công sự chiến đấu, kho tàng, lũy dài 2.500 trượng (khoảng 10km), chiều rộng 1,5 trượng (khoảng 4m), trang bị bằng vũ khí tự tạo của Đào Duy Từ.
Căn cứ vào địa thế mà xét, Đào Duy Từ chọn Nhật Lệ để xây thành, đắp lũy là cách nhìn về thế chiến lược. Nhật Lệ cách sông Gianh 30km, phía sau lại dựa vào hình sông thế núi liên hoàn nối liền cánh đồng hai huyện Quảng Ninh, Lệ Thủy, là chỗ dựa lâu dài vững chắc. Coi sông Gianh là tiền duyên của thế trận "tiến có thể đánh, lùi có thể giữ".
Quân Trịnh mỗi khi thâm nhập vào thế trận này phải vượt qua tuyến phòng thủ sông Gianh lại phải vượt qua huyện Bố Chính (nay là huyện Bố Trạch) là nơi nắng cháy đất cằn, dân cư thưa thớt nên khi đến Nhật Lệ thì nhân lực đã cạn kiệt, mỗi khi quân Trịnh vây đánh lũy Trường Dục thì phải khiếp đầm lầy Võ Xá, đã thành câu ca: "Nhất sợ Lũy Thầy, nhì sợ đầm lầy Võ Xá".
Trận địa đầm lầy Võ Xá, xét về địa thế sông núi Nhật Lệ, đi ngược dòng đến ngã ba Trận Xá, đó là ngã ba dòng Kiến Giang chảy về nhập với sông Long Đại. Tại đây có mũi đất gọi là Đuồi Diện thuộc làng Cố Hiền, như một người khổng lồ giang hai tay đón đường thủy Nhật Lệ, tay trái vươn tới Trường Sơn, tay phải vươn tới phá Hạc Hải tạo ra vùng dân cư cánh quạt là huyện Quảng Ninh ngày nay. Trước khi nhập với sông Long Đại, dòng Kiến Giang còn đón nhận dòng nước sông Cẩm Ly, sông chảy dọc theo quốc lộ 1A, có khoảng cách từ bờ cát đến bờ sông là đầm lầy Võ Xá, nay thuộc xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh.
Có thể nói, núi Thần Đinh như một đài viễn vọng ở phía Tây, phá Hạc Hải ở phía Đông và Nam như bàn tay xòe ra, trong đó kín mít lau sậy, cỏ lác bí hiểm như đầm Dạ Trạch của Triệu Quang Phục, người không thông địa hình mà đi vào thì không biết lối ra. Ba vị trí: Trường Dục, Dinh Mười, đầm lầy Võ Xá liên kết với nhau thành một thứ trận đồ bát quái và sau này có lũy Động Hải cùng tạo nên trận đồ Động Hải. Đào Duy Từ trở thành nhà quân sự bậc thầy của thời đại đó.
Trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, có rất nhiều nhà quân sự bắt địch đánh theo cách của mình, nhưng nói là người bắt địch đánh theo kế mình trong phòng ngự với một thời gian dài trên một địa điểm cố định, trận nào cũng bị vướng vào cạm bẫy thì phải nói đó là Đào Duy Từ.
Quảng Bình đã trải qua cuộc kháng chiến trường kỳ, Quảng Bình cũng là nơi trải qua cuộc nội chiến dữ dội, dai dẳng như cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài, gây bao đau thương cho con người của Quảng Bình. Trong cuộc đấu tranh xã hội ấy, Đào Duy Từ là một vị tướng lỗi lạc.
Phía Tây Quảng Bình có đèo Mụ Dạ là cửa ngõ độc nhất, thuận tiện, thông với nước bạn Lào. Đèo Mụ Dạ ngày nay nằm trên đường 12A rất nên thơ, bốn bề sông núi nhấp nhô, trùng điệp chọc trời, mây phủ quanh năm tạo ra những dòng suối ngầm trong lòng đá như Hang Tiên, Cổng Trời, Cha Lo. Về lịch sử, đèo Mụ Dạ vốn là căn cứ địa của vua Hàm Nghi trong thời kỳ chống Pháp ở vùng Tuyên Hóa (1885 - 1888). Trong chống Mỹ cứu nước, đèo Mụ Dạ là "đèo lửa" của trục đường Hồ Chí Minh đã đưa các đơn vị Đồn BP Cha Lo, Thanh niên xung phong 759 và Tiểu đoàn 12 trở thành đơn vị Anh hùng.
Núi non miền Tây hai huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa có nhiều hiểm trở như dãy Giăng Màn đổ về Khe Ve, La Trọng, Quy Đạt được Tôn Thất Thuyết chọn làm nơi căn cứ chống Pháp.
Dãy Hoành Sơn ở phía Bắc là ranh giới Quảng Bình với Hà Tĩnh, tuy không cao như dãy Giăng Màn ở Minh Hóa, nhưng đây là vùng rừng núi có nhiều rừng rậm vắt ngang từ Tây sang Đông, tạo thành phên giậu cuối cùng của phương Nam nước Đại Việt. Trong thời kỳ mới giành quyền tự chủ từ phong kiến phương Bắc, Hoành Sơn không những có trong biên niên ký lịch sử mà núi non hùng vĩ, sơn thủy hữu tình của Hoành Sơn cũng đã đi vào thi ca của đất nước và con người Việt Nam. Hoành Sơn còn ghi đậm vó ngựa của các bậc anh hùng hào kiệt và các thi nhân nổi tiếng qua các thời kỳ. Trong những năm đánh Pháp, đánh Mỹ, đèo Ngang trở thành một trọng điểm đánh phá của địch, nhưng vẫn hiên ngang giữ vững mạch máu giao thông.
Theo triền núi Hoành Sơn đổ về phía Nam là sông Loan, hay gọi là sông Ròn. Nơi đây có làng Cảnh Dương, một trong bức tranh hoành tráng văn vật của Quảng Bình "Sơn, hà, cảnh, thổ, văn, võ, cổ, kim".
Trong 5 con sông của Quảng Bình có cửa thông ra biển có tên khác nhau: Sông Loan có cửa Ròn, sông Thuận Cô có cửa Lý Hòa, sông Dinh có cửa Náu, còn lại 2 con sông lớn là sông Gianh và sông Nhật Lệ thì cửa sông cùng tên gọi với con sông là cửa Gianh và cửa Nhật Lệ. Từ biển vào sông cũng có cách khác nhau: Thuyền vào cửa Gianh phải đi từ phía Nam lên, thuyền vào cửa Nhật Lệ thì đi từ phía Bắc xuống. Hình như 2 con sông có lạch ngầm giao nhau dưới đáy biển. Hai con sông tuy "nghịch thủy" ở ngoài mặt nhưng "thuận thủy" ở đáy lòng. Thể hiện vượng khí ở núi sông dành cho Quảng Bình một hình tượng sâu sắc về tinh thần đại đoàn kết dân tộc trước nghĩa lớn, để rồi cùng nhau vượt qua khó khăn vất vả, đồng sức, đồng lòng xây dựng và bảo vệ quê hương trong suốt chiều dài lịch sử 410 năm lịch sử oai hùng.
Giờ đây, người dân Quảng Bình không quên công ơn của Đào Duy Từ đã mưu lược đấu tranh giữ đất vùng biên cương nơi cửa sông Nhật Lệ. Người dân Quảng Bình cũng tự hào về Thần hầu Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh vua triều Nguyễn đi mở cõi phương Nam, mở rộng vùng đất Việt Nam. Đặc biệt, giờ đây, người Quảng Bình vô cùng tự hào quê hương có một vị tướng tài lừng danh năm châu bốn biển, suốt đời phụng sự nhân dân, lập nên những chiến công hiển hách nhưng khi về già, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã về với đất mẹ nơi Vũng Chùa - Đảo Yến của Hoành Sơn hùng vĩ.








