Biên phòng - Việt Nam đã thành lập được 9/16 khu bảo tồn biển (KBTB). Ông Nguyễn Trung Kiên Cục phó Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi Thủy sản thông tin như vậy tại Hội nghị Đánh giá công tác quy hoạch và thành lập KBTB tại Việt Nam, đề xuất kế hoạch giai đoạn 2015-2020 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) tổ chức sáng 21-10.
![]() |
| Thứ trưởng Vũ Văn Tám phát biểu tại hội nghị. |
Hệ thống KBTB Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc phục hồi, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản, phát triển kinh tế biển, góp phần cải thiện sinh kế của cộng đồng người dân các địa phương ven biển. Bên cạnh đó, KBTB còn có ý nghĩa to lớn đối với nghiên cứu khoa học, giáo dục cộng đồng, giải trí và du lịch sinh thái; góp thêm cơ sở pháp lý và cung cấp các công cụ hành chính cho việc đấu tranh bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của nước ta, giải quyết các vấn đề môi trường xuyên biên giới trong vùng Biển Đông mà các nước đang quan tâm.
Ngày 26-5-2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 742/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch hệ thống KBTB Việt Nam đến năm 2020 (gồm 16 KBTB). Ông Nguyễn Trung Kiên, Cục phó Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi Thủy sản cho biết: Tới thời điểm hiện tại, mạng lưới 9/16 KBTB tại Việt Nam đã thành lập gồm: Cát Bà, Bạch Long Vỹ (Hải Phòng), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Vịnh Nha Trang (Khánh Hòa), Núi Chúa (Ninh Thuận), Hòn Cau (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), Phú Quốc (Kiên Giang).
Về mặt quản lý nhà nước, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám cho biết, đến nay, hệ thống cơ chế, chính sách cho bảo tồn Biển về cơ bản đã hình thành tương đối đồng bộ, gồm: Luật Thủy sản, Luật bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đa dạng sinh học, Chiến lược quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn 2030, Quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến 2030, Quy hoạch Hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam…. Bộ Nông nghiệp và các địa phương cũng tổ chức tập huấn, nâng cao nhận thức cho cộng đồng. Đồng thời, tổ chức các đoàn đi tham quan học tập và chia sẻ kinh nghiệm tại một số quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong công tác bảo tồn.
Tuy nhiên, việc thành lập cũng như hoạt động của KBTB Việt Nam hiện nay còn một số tồn tại như: Quy định tại các văn bản có sự khác biệt nhau, gây lúng túng trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển. Công tác bảo tồn ở một số địa phương chưa thực sự được quan tâm nhiều. Nguồn kinh phí đầu tư cho các KBTB còn ít so với nhu cầu thực tế...
![]() |
| KBTB Cù Lao Chàm là một trong những KBTB thành công trong việc gắn kết bảo tồn tài nguyên biển với phát triển, tạo sinh kế bền vững cho người dân. |
Ông Hồi nhấn mạnh: “Phải giải quyết triệt để với vấn đề làm luật, để làm sao Nghị định không chồng chéo. Trong quá trình quản lý, nên tiếp cận quản lý, quy hoạch tổng thể. Khi triển khai thành lập KBTB nên ưu tiên những khu bảo tồn trên lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, an ninh như đảo Trần, Bạch Long Vỹ và Lý Sơn.
Bên cạnh việc khắc phục những tồn tại hiện nay, Bộ NN&PTNT đề xuất trong thời gian tới, cần xác định vị trí và tập trung nguồn lực đầu tư, xây dựng điểm một KBTB có tầm quan trọng quốc gia gắn với Trung tâm nghề cá lớn của Việt Nam.









