Biên phòng - Nói đến người Pà Thẻn (còn gọi là Pà Hưng, Mèo Lài, Mèo Hoa, Mèo Ðỏ, Bát Tiên tộc...), mọi người thường nhớ đến nghi lễ nhảy lửa độc đáo mang màu sắc tâm linh, mà ít người biết người Pà Thẻn còn có một hệ thống chữ viết vô cùng độc đáo.
![]() |
| Một trang trong tập tài liệu Bắc Vi và hình con dấu của đồng bào Pà Hưng. |
Năm 1908, Bonyfacy, sĩ quan Pháp, Công sứ Hà Giang 1911, cộng tác viên của Viện Bác Cổ Viễn Đông (1902-1903) đã nghiên cứu về chữ viết của người Pà Thẻn. Bonyfacy đã chụp được ảnh con dấu của người Pà Thẻn ở vùng thượng lưu sông Lô, dùng trong những cuộc khởi nghĩa chống lại bọn thống trị địa phương và thực dân. Trên con dấu ngoài sáu chữ Hán (đây có lẽ là trường hợp ngoại lệ duy nhất), còn có hình vẽ những con vật bốn chân và hai chân, là chữ viết hình vẽ của người Pà Thẻn.
Trước năm 1960, Giáo sư sử học Lê Trọng Khánh, nguyên giảng viên trường Đại học Tổng hợp đã dày công điền dã, sưu tầm tại một số huyện của hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, nơi có đông người Pà Thẻn sinh sống. Ông đã có những kết luận quan trọng về hệ thống chữ viết của người Pà Thẻn.
Trước hết, chữ viết của người Pà Thẻn là chữ viết hình vẽ không giống với chữ Hán, chữ Việt, chữ Thái... Người Pà Thẻn có truyền thuyết: "Xưa người Pà Thẻn có chữ, tất cả đàn ông đều có quyền học nhưng thiên tai địch họa liên tiếp xảy ra. Người Pà Thẻn phải dắt díu nhau đi tìm miền đất hứa. Trước khi đi, mọi người đồng lòng đốt sách lấy than hòa vào nước chia cho mọi người uống và nguyền rằng không bao giờ dùng chữ nữa mà chỉ ghi nhớ".
May thay, vì những lý do nào đó, vào trước năm 1960 vẫn còn lại một số tài liệu về chữ viết trong dân gian ghi lại những bài cúng ma. Một số thầy mo cao tuổi vẫn đọc được một phần và Giáo sư Lê Trọng Khánh sưu tầm được một tập tài liệu dày 64 trang ghi lại những bài cúng ở Thượng Minh, Chiêm Hóa, Tuyên Quang; một tập dày 32 trang ghi lại những bài cúng của đồng bào Bắc Vi, Bắc Quang, Hà Giang. Các chữ viết hình vẽ ở hai nơi trên có một số điểm khác nhau, ví dụ trong tập ở Thượng Minh, hình người tay dính liền với đầu, còn ở tập tài liệu ở Bắc Vi, hình người tay đã xuống vai. Ở Thượng Minh, hướng hành động của sự việc chen vào giữa các hình vẽ, tách các hình vẽ thành các khái niệm cụ thể, trong khi ở Bắc Vi, hướng hành động của sự vật lại đưa xuống dưới các chữ viết hình vẽ.
Trong hệ thống chữ viết hình vẽ được tìm thấy, mỗi hình vẽ biểu thị một sự vật hay hiện tượng hầu hết có trong đời sống hằng ngày như: Mặt trời, con người, rừng cây, đôi gánh, xa kéo sợi... một phần do trí tưởng tượng như ma, thiên đường... (những hình vẽ này cũng rất gần với hình dáng con người). Những sự vật giống nhau đều được biểu thị bằng những hình vẽ giống nhau. Biểu thị sự vật có khi chỉ dùng một hình vẽ, nhưng cũng có khi tập hợp nhiều hình vẽ. Đặc biệt, mỗi hình vẽ đều cách nhau bởi ký hiệu chỉ hướng của sự vật.
Chữ viết hình vẽ của người Pà Thẻn sắp xếp từ phải sang và cũng đọc từ phải sang trái. Trong tập tài liệu đã tìm được tuy mất một số trang, song vẫn còn tới 538 lượt hình, trong đó có 290 hình biểu thị một sự vật, một hiện tượng, 81 hình tập hợp nhiều sự vật, 209 hình biểu thị một sự vật.
Ví dụ, khi biểu thị chỗ chăn nuôi gà, vịt, lợn, ta thấy nhiều hình vẽ mô phỏng những con vật đó xếp liền nhau. Hoặc hình vẽ biểu thị chỗ rửa chân cho ma thiên đường (người Pà Thẻn quan niệm có ma tốt và ma xấu) có một tập hợp hình vẽ liên tiếp những hình giống người và có ranh giới giữa đất với trời... Còn với những hình vẽ biểu thị một sự vật thường đơn giản, mô phỏng thực tế sinh hoạt đời sống như: dấu X là đường rẽ; cối giã gạo, xa kéo sợi, bếp lửa... đều là những hình vẽ mô phỏng hình ảnh thực.
Trong tài liệu nghiên cứu của Giáo sư Lê Trọng Khánh đã thống kê được tần xuất xuất hiện hình vẽ và giải mã được chỗ thờ ma nhà xuất hiện 35 lần, con người và hành động kèm theo xuất hiện 37 lần. Các loại cây khác nhau xuất hiện 20 lần. Đường rẽ xuất hiện 19 lần. Cổng ra vào xuất hiện 15 lần. Cửa nhà xuất hiện 15 lần. Cổng chào xuất hiện 15 lần. Gốc cây đa xuất hiện 10 lần. Thùng nhuộm vải xuất hiện 3 lần. Xe xuất hiện 2 lần. Bếp lửa xuất hiện 2 lần. Bãi ra dớn xuất hiện 2 lần. Đường lên dốc xuất hiện 2 lần. Guồng quay sợi xuất hiện 2 lần. Ruộng bậc thang xuất hiện 7 lần. Còn chỗ nghỉ uống nước, chỗ cọp bắt người, bến đò, nhà mẹ mặt trời, chỗ rửa chân của ma, cái dần gạo, cái sàng gạo mỗi thứ xuất hiện 1 lần. Còn 267 hình chưa giải mã được.
Tuy số lượng hình vẽ giải mã được chưa nhiều, nhưng có thể thấy những chữ viết hình vẽ của người Pà Thẻn không chỉ dùng để ghi lại đời sống sinh hoạt hằng ngày, những bài cúng, mà còn có sự giao thương với các vùng khác nhau. Thông qua những chữ viết hình vẽ giải mã được, ta còn hiểu về quan niệm về vũ trụ, về ba tầng thế giới thông tỏ và giao cảm của người Pà Thẻn.
Điều độc đáo trong hệ thống chữ viết hình vẽ của người Pà Thẻn là có nhiều hình vẽ biểu thị tính âm dương rõ rệt như: Người có đôi nam nữ, con vật, hoa... cũng có đôi mang tính đực - cái (những chữ viết hình vẽ này còn được thể hiện trên trang phục của người Pà Thẻn bằng những hoa văn, họa tiết). Điều đó thể hiện khát vọng sinh sôi nảy nở, vươn tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Điều đó cũng lý giải người Pà Thẻn xưa sống chủ yếu bằng canh tác nương rẫy. Phương thức canh tác là phát đốt rồi chọc lỗ, tra hạt. Cây trồng gồm lúa, ngô và các loại rau, đậu, khoai sọ, khoai môn...
Chữ viết hình vẽ của người Pà Thẻn tuy là hình thức tiền văn tự nhưng phù hợp với phong tục, tập quán và mọi mặt đời sống văn hóa, xã hội, tâm linh... giúp chúng ta hiểu thêm về một nền văn hóa đậm đà bản sắc còn ẩn sâu trong dân gian như trầm tích.
Ngày nay, người Pà Thẻn học chữ phổ thông, nhưng những chữ viết hình vẽ còn đó như một câu hỏi lớn với những người làm công tác nghiên cứu và trách nhiệm bảo tồn chữ viết, một trong những tinh hoa văn hóa của người Pà Thẻn trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.







