Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 10:55 GMT+7

Sứ thần tài ba Vũ Huy Tấn

Biên phòng - Vũ Huy Tấn là danh sĩ đời vua Lê Hiển Tông triều Hậu Lê, còn có tên là Võ Liễn, hiệu là Nhất Thủy. Ông sinh năm Kỷ Tỵ (1749), quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An, nay là thôn Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Năm Mậu Tý (1768), Vũ Huy Tấn đỗ đầu kỳ thi Hương, được bổ làm Thị nội Văn chức dưới thời vua Lê Hiển Tông. Sau khi nhà Hậu Lê sụp đổ, Vũ Huy Tấn về quê ở ẩn. Khi vua Quang Trung ra Bắc, ông nhận lời mời ra giúp nhà Tây Sơn. Ông là người thông tuệ, có tài ứng đối nên nhiều lần được cử đi sứ sang Trung Quốc.

Năm Kỷ Dậu (1789), ông được cử sang giao thiệp với nhà Thanh. Do có công lao, ông được phong làm Thị lang bộ Công, tước bá.

Năm sau (Canh Tuất - 1790), ông được giao nhiệm vụ cùng với Ngô Văn Sở, Phan Huy Ích, Nguyễn Duật đưa phái đoàn của giả vương Phạm Công Trị sang nhà Thanh. Trở về nước, ông được phong làm Thượng thư bộ Công, tước Hạo Trạch hầu. Dưới triều vua Cảnh Thịnh, năm 1795, ông được đặc cách lên hàng Thượng trụ quốc, Thị trung đãi chiếu, Thượng thư.

Có sách ghi, khi đi sứ nhà Thanh, một hôm ngồi trong công quán, ông thấy quan nhà Thanh ghi sổ những cống phẩm của nước ta có chép hai chữ "di quan" (quan mọi) để chỉ sứ bộ Đại Việt. Tuy trong lòng rất bất bình nhưng ông nghĩ, chẳng lẽ lại đi gây gổ với người ta (?). Là người giỏi văn thơ lại có tài ứng đối nên ông nghĩ ra một hình thức phản kháng vừa tao nhã, vừa thích hợp để bảo vệ quốc thể. Vũ Huy Tấn đã làm một bài thơ có tựa đề là "Biện di" (có nghĩa là Biện bác về chữ di). Bài thơ như sau:

Di bản tòng "cung" hựu đới "qua"

Ngô bang văn hiến tựa Trung Hoa

Thần kim khâm sứ An Nam quốc

Thử tự thư lai bất diệc ngoa.

Dịch thơ:

Di vốn là cung hợp với qua

Nước ta văn hiến giống Trung Hoa

Thần nay là sứ An Nam quốc

Viết bậy là di há chẳng ngoa?

Bài thơ đã dùng phép chiết tự của chữ "di" mà quan lại nhà Thanh dùng. Chữ "di" gồm chữ "cung" và chữ "qua" hợp lại. Câu thơ có nghĩa là: Các ông coi chúng tôi là man di, nhưng di ở đây là di có sức mạnh cung và mác, chứ không phải là mọi rợ đâu, làm cho Thiên triều phải nể phục.

Bài thơ tỏ ý phản đối thái độ xấc xược của quan lại nhà Thanh, vừa cương nghị, vừa khéo léo, sâu cay mà vẫn giữ được hòa khí. Nghe nói, viên quan nhà Thanh đọc bài thơ rất thán phục, sự việc truyền tới tai vua Thanh, lối gọi miệt thị đó đã bị bãi bỏ.

Do có tài ngoại giao, nên Vũ Huy Tấn đã được triều Tây Sơn cử đi sứ tới 7 lần (vị thần thất độ khẩu Nam Quan), ông là người có vai trò và công lao to lớn trong việc bình thường hóa quan hệ giữa nước ta và nhà Thanh sau các cuộc chiến tranh xâm lược. Ông mất năm Canh Thân (1800) trong khi đang trên đường đi làm nhiệm vụ, hưởng thọ 51 tuổi. Thi hài ông được an táng tại cồn Mả Rồng (ở cánh đồng phía Đông Nam làng Mộ Trạch). Lăng mộ của ông được tôn tạo rất đẹp, trên bia đá có khắc bài thơ "Biện di".

Trên đường đi sứ, Vũ Huy Tấn ghé thăm nơi ngày xưa tướng nhà Hán là Mã Viện dựng cột đồng phân chia ranh giới nước ta và Trung Hoa, ông đã cảm xúc làm bài thơ "Vọng đồng trụ cảm hoài" (Trông chỗ cột đồng, cảm xúc). Đây là bài thơ gây ấn tượng sâu sắc về tinh thần tự hào dân tộc, ý thức chủ quyền quốc gia. Có lẽ, sau chiến thắng Đống Đa - Thăng Long vang dội do người anh hùng áo vải Quang Trung lãnh đạo, đã tiếp thêm sức mạnh về ý thức tự cường dân tộc, ý chí đấu tranh đòi lại lãnh thổ của tổ tiên đã bị kẻ thù xâm chiếm, tạo nên nguồn cảm hứng mạnh mẽ giúp các nhà ngoại giao - nhà thơ Đại Việt khi đó cho ra đời những bài thơ như thế.

Đề tài Mã Viện và trụ đồng mà viên tướng xâm lược này dựng, đã được đề cập trong thơ của nhiều sứ thần. Sau khi đánh bại cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vào tháng 2 năm Quý Mão (43), Mã Viện, một danh tướng của nhà Hán đã cho xây dựng trụ đồng ở chỗ phân chia địa giới và cho khắc 6 chữ: "Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt", nghĩa là: Nếu trụ đồng bị gãy, dân Giao Chỉ sẽ bị tiêu diệt. Thái độ và hành động ngạo mạn của Mã Viện thực chất chỉ là một đòn "tâm lý chiến", hòng làm cho nhân dân ta dù có căm tức chúng đến đâu cũng không dám đạp đổ trụ đồng, vì làm như vậy thì nòi giống Giao Chỉ sẽ bị tiêu diệt. Nhưng, nếu cứ để trụ đồng lù lù ở đó thì lại như một sự ghi nhận về thất bại của nước ta và công nhận sự cai trị của phương Bắc.

Không chịu khuất phục, người dân nước ta đã tìm cách xóa sổ trụ đồng bằng cách, hằng ngày đi qua, mỗi người dân ném vào đó một viên đá, chẳng bao lâu, đá ném vào đã vùi lấp trụ đồng và như vậy, vết tích tượng trưng cho uy thế của kẻ xâm lược cũng không còn trơ ra đó. Nhiều nhà thơ nước ta đã đả kích gay gắt việc Mã Viện dựng trụ đồng.

Trong bài thơ "Vọng trụ đồng cảm hoài", Vũ Huy Tấn đã viết:

"Sớm ra thành Minh Châu

Tìm thăm dấu đồng trụ,

Dân xứ trỏ đằng xa,

Xanh xanh hai đá ụ

Than ôi! Đồng trụ ấy,

Nền mốc cũ nước ta.

Thời Trưng Vương buổi trước,

Mã Viện vạch đôi ra,

Son phấn thật anh hùng,

Muôn thuở còn tấm tắc

Giận cắt đất dâng người

Đứa nhúng tay vào vạc.

Bờ cõi bị chìm đắm,

Khoảng vài trăm năm đây.

Khói mù luôn sớm tối,

Thương cảm cuộc xưa, nay"...

(Khương Hữu Dụng dịch)

Cũng trong lần đi sứ nhà Thanh vào năm Canh Tuất - 1790, nhân dịp mừng thọ vua Càn Long 80 tuổi, hai ông Phan Huy Ích và Vũ Huy Tấn đã có thơ xướng họa với sứ thần Triều Tiên là Tự Hạo Tu (Phó sứ Triều Tiên) rất tâm đắc, thể hiện sự hiểu biết và hữu nghị giữa hai nước.

Đặng Việt Thủy

Bình luận

ZALO