Biên phòng - Ngày nào người dân còn phải dựa vào nguồn sản vật trong rừng để sống thì ngày đó họ còn gặp nhiều khó khăn. Trên thực tế, việc cả ngàn hộ dân đang "bám trụ" tại 18.300ha vùng đệm của Vườn quốc gia Bù Gia Mập đã tạo ra sức ép lớn cho công tác bảo vệ rừng...
![]() |
| Trước sức ép sinh kế ở vườn quốc gia, lực lượng của Hạt Kiểm lâm Bù Gia Mập phải liên tục căng quân hoạt động. |
Nằm dọc các con đường đất đỏ len lỏi dưới những tán rừng thuộc xã Bù Gia Mập (huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước) có khá nhiều căn nhà liêu xiêu của người dân địa phương. Chỉ tay vào nhà gỗ nhỏ bé của gia đình mình đang ở, chị Thị Vơi, người dân tộc S'Tiêng, ở thôn Bù Dốt cho biết, căn nhà của chị đã hư hỏng nhiều chỗ, nhưng chưa có tiền sửa chữa nên vợ chồng cứ để vậy.
"Vợ chồng mình tay trắng cưới nhau rồi ra ở riêng. Mẹ chồng thương hai vợ chồng nên bàn với cả nhà, quyết định cho 3ha vườn điều. Nhưng hiềm một nỗi, diện tích điều này, bên nhà chồng đang cầm cố, nên còn lâu mới lấy ra được. Vì thế, đến giờ, vợ chồng mình vẫn không có đất sản xuất. Để có tiền chi tiêu cho sinh hoạt gia đình và nuôi hai đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn, chồng mình hằng ngày phải vào rừng để khai thác măng tre, tìm mật ong về bán lấy tiền đong gạo. Mình thì đi bắt cá tôm, cua ốc ở các khe suối về để lo bữa ăn hằng ngày. Cực lắm!...".
Theo anh Điểu Ấp, chồng chị Thị Vơi, sống bên cạnh vùng đệm vườn quốc gia, dù không muốn, nhưng nhiều người dân địa phương vẫn phải xem đó là nguồn sống của mình. Mưu sinh bên cạnh "rừng vàng", cứ đến mùa ong mật, nhiều người lại khăn gói rủ nhau vào rừng kiếm mật về bán lấy tiền mua gạo. Hết mùa "hái" lộc rừng, nhiều người lén lút vào vườn quốc gia chặt củi để đổi lấy gạo.
"Cứ 3 bó củi to thì đổi được 2 ký gạo, nhưng để có được lượng củi đó, người ta phải bỏ công từ sáng sớm đến xế chiều. Kiếm củi ngày nào, đổi gạo ăn hết ngày đó. Biết vào vườn quốc gia khai thác củi là sai, nhưng có nhà có đến 5, 6 đứa con, lại không có đất sản xuất, nên vẫn phải dựa vào rừng để kiếm sống" - Anh Điểu Ấp chia sẻ.
Nói về áp lực đối với việc bảo vệ rừng trước nhu cầu mưu sinh của người dân sống ở vùng đệm Vườn quốc gia Bù Gia Mập, anh Điểu Tun, một người từng nổi tiếng trong vùng bởi cái nghề "nhất phá sơn lâm" trước đây phân trần, cách đây chưa lâu, anh làm "lâm tặc" là mong muốn làm giàu nhanh chóng.
Về sau, do nhận thức được việc khai thác lâm sản trái phép là phá hoại môi trường sống và là hành vi vi phạm pháp luật, nên anh đã từ bỏ nó để tham gia bảo vệ rừng theo hợp đồng giao khoán của Hạt Kiểm lâm Bù Gia Mập với mức thu nhập trung bình từ 1,5 đến gần 2 triệu đồng/tháng.
Số tiền này tuy không nhiều nhưng ổn định, có thể giúp gia đình anh vơi bớt nỗi lo cơm áo gạo tiền. "Nhưng số hộ dân ở Bù Gia Mập được may mắn như mình rất ít nên người ta vẫn phải đi rừng để kiếm sống. Do chủ trương siết chặt quản lý rừng, lực lượng bảo vệ rừng làm rất gắt gao nên cuộc sống của nhiều gia đình trở nên khó khăn...".
"Lời giải" không ở đâu xa
Những năm trước đây, giống như ở nhiều nơi có rừng, tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập thường xảy ra nạn khai thác lâm sản trái phép. Có thời điểm, đội quân tham gia khai thác lâm sản và săn bắt động vật trái phép tại đây có "quân số" rất đông, thậm chí lấn át cả lực lượng Kiểm lâm. Trước tình hình trên, được sự chỉ đạo và giúp đỡ của các cấp chính quyền, cùng với sự giác ngộ của cộng đồng dân cư vùng đệm, đặc biệt là sự quyết tâm vào cuộc của cán bộ Vườn quốc gia Bù Gia Mập nên công tác quản lý rừng ngày càng có nhiều chuyển biến tốt hơn.
Tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản, săn bắn thú rừng trái phép đã giảm theo từng năm, năm sau thấp hơn năm trước cả về quy mô và số lượng. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là áp lực bảo vệ rừng không còn tồn tại. Trái lại, do vẫn còn nhiều hộ trong tổng số hơn 5.200 hộ dân thuộc 2 xã Bù Gia Mập và Đắk Ơ (thuộc 2 tỉnh Bình Phước và Đắk Nông) đang sinh sống trong vùng đệm nằm trên khoảng cách 2km đất rừng tính từ vùng lõi của vườn quốc gia không có đất sản xuất, cuộc sống rất khó khăn nên buộc phải dựa vào rừng để sống.
![]() |
| Nhiều người dân ở vùng đệm Vườn quốc gia Bù Gia Mập vẫn phải sống dựa vào rừng. Ảnh: Bình Long |
Vấn đề đáng quan ngại là nhiều hộ dân sau khi bán điều non thì quay sang bán đất sản xuất. Khi không còn nguồn thu, họ phải đi làm thuê hoặc xâm canh đất lâm nghiệp để trồng mì hoặc tiếp tục vay nặng lãi để trang trải cuộc sống. Một nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng diễn ra dai dẳng, phức tạp là hầu hết các hộ đồng bào này có đời sống kinh tế khó khăn, nghèo, một số hộ có thói quen ăn chơi rất "hồn nhiên".
Muốn tậu xe, xây nhà, trả lễ cưới vợ, hễ cần tiền là họ sẵn sàng cầm cố hoặc bán đất sản xuất, nên thường bị các đối tượng có tiền lợi dụng, tìm cách dụ dỗ bằng nhiều thủ đoạn tinh vi. Chẳng hạn, thời gian đầu làm quen, các đối tượng chuyên cho vay nặng lãi cho các hộ này mượn tiền từ ít đến nhiều, cho thiếu nợ hoặc mua hàng trả chậm với cách tính lãi cao, đến lúc đòi nợ không có tiền trả thì xiết đất để trừ nợ...
Thực trạng trên cho thấy, lời giải cho bài toán làm giảm sức ép ở 18.300ha vùng đệm của Vườn quốc gia Bù Gia Mập không ở đâu xa. Điều quan trọng và trước hết là phải triệt tiêu cho được hiện tượng bà con dân tộc thiểu số bị các đối tượng "cò mồi" dụ dỗ để cho vay nặng lãi và tình trạng mua bán đất sản xuất trái pháp luật.
Song song với đó, các ban, ngành chức năng địa phương cần thực hiện tốt công tác giải quyết đất sản xuất, đất ở trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, có chính sách hỗ trợ cho các hộ đồng bào dân tộc nghèo về giống cây trồng, vật nuôi nhằm tạo điều kiện để họ phát triển kinh tế.
Cũng cần có cơ chế cho phép các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tận dụng các khoảnh đất trống không có cây rừng và đất ven sông, suối ở trong phần đất giao khoán quản lý bảo vệ rừng để sản xuất, tăng thêm thu nhập, góp phần ổn định đời sống...









