Biên phòng - Do trình độ nhận thức còn hạn chế và do cả những ảo tưởng hoang đường nên một bộ phận quần chúng nhân dân các dân tộc thiểu số trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên đã đi theo tà đạo Hà Mòn. Phần lớn những người bị bọn chúng lôi kéo đều là những phụ nữ, trẻ em và là các tín đồ đạo Công giáo. Sau những gì trải qua và đã trả giá, đến giờ, những người lầm lỗi đã hiểu ra bản chất lừa mị, hoang đường, phản động của tà đạo Hà Mòn. Họ đã trở về, ăn năn nhận lỗi, nói lên tất cả sự thật về tà đạo này và xin chính quyền, già làng, bà con và người thân tha thứ.

Tuy không biết chữ nhưng với nghề thầy mo, thầy cúng, bà Y Gyin (tên gọi khác là Y Ên), SN 1942, dân tộc Ba Na, trú tại làng Kơ Tu, vẫn thường xuyên lừa phỉnh số người nhẹ dạ tin vào những điều nhảm nhí. Mặc dù hai mắt đã bị lòa không nhìn thấy gì, nhưng cuối năm 1999, bà Y Gyin tung tin “Vào lúc 24 giờ, ngày 20-12-1999, Y Gyin đã trông thấy Đức mẹ Maria hiện ra chói lọi trên nóc nhà. Đức mẹ đã lựa chọn Y Gyin để phán truyền xứ điệp cho loài người: Trái đất này sẽ có ngày tận thế, ai tâm niệm theo Đức mẹ thì linh hồn xẽ được lên thiên đường, còn không sẽ bị xuống địa ngục với muôn vàn đau đớn vì quỷ quái hành hạ...
Mọi người theo Đức mẹ hãy đọc kinh (Kinh đức mẹ), thường xuyên làm lễ dâng hoa và góp tiền, của để trang trí nơi thờ tự sẽ được sung sướng, sẽ hết bệnh tật...”. Một thời gian sau, bà Y Hir, một đối tượng khác ở làng Đăk Wớt cũng tung tin có “Đức mẹ xuất hiện”. Cả Y Gyin và Y Hir đều mù chữ, nên những luận điệu tuyên truyền bịa đặt về sự kiện “Đức mẹ hiện hình” đều thông qua Y Kách viết lại bằng chữ Ba Na. Tuy nhiên, từ năm 1999 - 2004, tin “Đức mẹ Maria hiện hình” chỉ dừng lại ở những lời đồn thổi và chưa có tác động lớn trong người dân.
Đầu năm 2005, Y Gyin cùng một số đối tượng khác tích cực tuyên truyền, lôi kéo tín đồ người dân tộc thiểu số từ bỏ đạo Công giáo để tham gia một tôn giáo mới là đạo Hà Mòn. Họ tuyên truyền đạo Hà Mòn chỉ thờ đức mẹ Maria, không thờ chúa Jêsu. Ngoài ra, các đối tượng này còn tung ra các luận điệu “Trái đất sẽ có ngày tận thế, ai tâm niệm “Đức mẹ” thì linh hồn sẽ được cứu rỗi, nếu không sẽ bị đày xuống địa ngục chịu nhiều hình phạt. Người nào đi theo “bước chân của Đức mẹ hiện hình” thì không phải lao động vẫn sung sướng, ốm đau không cần chữa cũng khỏi bệnh, vay vốn ngân hàng sẽ được xóa nợ...”.
Bên cạnh đó, do không phải là một tôn giáo nên tà đạo Hà Mòn không có giáo lý riêng, những người tin theo tà đạo này cơ bản vẫn sử dụng giáo lý và kinh thánh của đạo Công giáo trong các buổi cầu nguyện, dâng hoa. Ngoài ra, để lừa bịp, lôi kéo đồng bào, Y Gyin và số đối tượng cốt cán đã thu thập và tự soạn ra các tài liệu như: “Sứ điệp Đức mẹ Maria”, “Thông điệp Đức mẹ hiện hình”... lựa chọn kinh thánh và sử dụng cả băng, đĩa về Đức mẹ của đạo Công giáo để sao trích, biên dịch thành những tài liệu về “Đức mẹ hiện hình”, soạn thêm lời giáo huấn của Đức mẹ để tuyên truyền nhằm lôi kéo. Chính vì vậy, những người theo tà đạo Hà Mòn đại đa số là đồng bào dân tộc thiểu số, là tín đồ tôn giáo khác chuyển sang, trong đó, phần lớn là phụ nữ, trẻ em.
Với những luận điệu nhảm nhí và phương pháp tuyên truyền như trên, chỉ trong vòng 1 năm, từ năm 2005 đến hết năm 2006, các đối tượng này đã lôi kéo được 1.020 người tại 4 huyện của tỉnh Kon Tum theo đạo Hà Mòn. Trong đó, huyện Đăk Hà có 52 người, Đắk Tô có 167 người, Ngọc Hồi có 313 người, Kon Rẫy có 476 người và một số ít ở thị xã Kon Tum theo đạo Hà Mòn.
Trong khu vực biên giới, tà đạo Hà Mòn chỉ có 153 tín đồ tại thôn Giăng Lố 2, xã Sa Loong, huyện Ngọc Hồi (địa bàn quản lý của Đồn BP Sa Loong). Từ đó, hai làng Kơ Tu và Đắk Wớt của xã Hà Mòn, huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum được xem là “đất thiêng” của Công giáo, vì họ cho đó là nơi Đức mẹ đã và đang hiện diện. Vào ngày 20 hàng tháng, không chỉ giáo dân ở xã Hà Mòn, mà cả giáo dân một số nơi trong tỉnh Kon Tum về đây dâng hoa, cầu nguyện.
Để củng cố tổ chức, khuyếch trương thanh thế, số cầm đầu tự đặt ra các hoạt động như: Ở các thôn, làng có đạo, tín đồ phải tập trung theo nhóm để đọc kinh, cầu nguyện và dâng hoa vào các ngày 10, 20, 30 hàng tháng. Thứ 7, chủ nhật hàng tuần sinh hoạt đạo vào cả buổi sáng và buổi tối. Phân công các giáo phu làm cốt cán của từng nhóm để cầu nguyện và là người xướng kinh. Người nào tin theo phải nộp một số tiền để phục vụ đạo, khi sinh hoạt cầu kinh, dâng hoa cũng phải nộp tiền để mua hoa, trang trí. Cũng trong thời gian này, một số đối tượng đi đến các làng, thông qua mối quan hệ thân tộc, lôi kéo tín đồ hình thành các nhóm tà đạo Hà Mòn ngày càng phức tạp.
Sự phát triển của tà đạo Hà Mòn ở 2 tỉnh Gia Lai, Kon Tum đến lúc này đã thực sự tác động, ảnh hưởng đến tín lý và đời sống xã hội của nhân dân địa phương. Cũng vì niềm tin mơ hồ, mù quáng, một số người đã phải đóng góp nhiều khoản tiền bất hợp lý để rồi bị những kẻ đứng đầu tà đạo Hà Mòn chiếm đoạt, tiêu xài cá nhân. Đây thực chất là một thứ tà đạo độc hại, nhảm nhí cần phải dẹp bỏ. Hành vi lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo tuyên truyền tà đạo của các đối tượng gây chia rẽ đoàn kết dân tộc và giữa các tín đồ tôn giáo, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự và đời sống người dân trên địa bàn cần sớm được đưa ra xử lý trước pháp luật.
(Còn tiếp)
Kỳ 2: Con đường trở về







