Cộng đồng người Khmer Nam bộ có hơn 1,3 triệu người, sinh sống tập trung tại các tỉnh miền Tây Nam bộ, trong đó, đông nhất là Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang... Đặc biệt, đồng bào Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đang kế thừa một di sản văn hóa vô giá, với nhiều loại hình nghệ thuật rất độc đáo như hát múa rô băm, nghệ thuật sân khấu kịch hát dù kê, nghệ thuật điêu khắc, trang trí, hội họa, âm nhạc, hát, múa, văn học dân gian…
Là người quê ở Hà Nội, thường trú tại khu phố 9, phường Long Phước, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước, anh Trần Hồng Cảnh yêu thích tiếng sáo trúc từ khi còn nhỏ, đến nỗi hễ nghe tiếng sáo vi vu ở đâu đó là tìm đến nghe cho bằng được. Anh kể: “Khi còn học lớp 4, tình cờ nghe tiếng sáo cất lên dưới thuyền. Tiếng sáo rất hay, ở trên bờ, mình chạy bộ theo một đoạn để nghe, cho tới khi tiếng sáo xa dần...”.
Hiện nay, cả nước chỉ có 2 bảo tàng văn hóa dân tộc Khmer ở tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Trà Vinh. Bảo tàng Văn hóa dân tộc Khmer ở tỉnh Trà Vinh được xây dựng từ năm 1995 nằm trong quần thể khu di tích văn hóa cấp quốc gia chùa Âng và thắng cảnh ao Bà Om. Với hàng trăm hiện vật được lưu giữ, đây không chỉ là niềm tự hào của người Trà Vinh, mà còn là nơi gìn giữ và tôn vinh nét văn hóa nhiều thế hệ của hơn 1,5 triệu đồng bào Khmer Nam bộ.
Nền văn hóa nghệ thuật Khmer đã trải qua quá trình phát triển lâu dài và tạo nên bản sắc đặc trưng. Trong đó, âm nhạc dân gian Khmer có nhiều loại hình khác nhau, gắn bó với nhịp sống đời thường, sinh hoạt cộng đồng và các lễ hội của đồng bào dân tộc Khmer. Nhưng đứng trước dòng chảy âm nhạc hiện đại, âm nhạc dân gian Khmer gặp nhiều khó khăn để tồn tại và đứng vững, nếu không nói là có nguy cơ “biến mất”...
Dàn nhạc ngũ âm Khmer gồm 7 nhạc khí, tạo ra 5 loại âm thanh khi diễn tấu gồm tiếng của đồng, sắt, gỗ, da và hơi. Di sản đồ sộ về kho tàng âm nhạc và nhạc khí là tinh hoa văn hóa truyền thống mà người Khmer tự hào sở hữu. Khác với các dân tộc khác có thể tạo tác các loại nhạc cụ mộc mạc, đơn thanh sắc, nhạc cụ Khmer sang trọng, lảnh lót, vui tươi, ấm áp và mang âm hưởng của tôn giáo, có tác dụng gắn kết cộng đồng, làm cho lòng người trở nên hòa nhã, thư thái.
Đồng bào Khmer Nam bộ có 8 dịp lễ trọng trong một năm, trong đó chỉ có một ngày lễ Chol Chnam Thmay vào năm mới giữa tháng 4 theo tích Balamon giáo. Còn lại 7 ngày lễ khác đều là lễ Phật mà lễ cúng trăng (Ok Om Bok) diễn ra vào những ngày trăng sáng của tháng 10 âm lịch là ngày lễ quan trọng hơn cả đối với dân tộc sùng đạo Phật như người Khmer.
Trong kho tàng các loại hình nghệ thuật dân gian Nam bộ, chỉ có đờn ca tài tử được lưu truyền và phổ rộng khắp 21 tỉnh, thành phố phía Nam và hiện vẫn có vai trò lớn trong đời sống tinh thần của người dân. Mỗi năm, vào dịp chuẩn bị đón Xuân mới, các tỉnh, thành Nam bộ đều rộn ràng chuẩn bị tổ chức hội diễn quy tụ các câu lạc bộ đờn ca tài tử nhằm lưu truyền bộ môn nghệ thuật này.
Mấy chục năm qua, ở Trà Vinh có duy nhất một người biết đàn và hát Chầm riêng Chà pây hay nổi tiếng (Chầm riêng có nghĩa là ca hát, Chà pây là đàn Chà pây). Đây là loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer, được phổ biến trong các phum sóc Nam bộ vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Ngày 24-4-2013, nghệ thuật Chầm riêng Chà pây tại huyện Trà Cú (Trà Vinh) được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Đối với đồng bào Khmer, nhà Sala được xem là kiểu nhà hội của phật tử, giảng đường của những sư sãi, là nơi tiếp khách trong những ngày lễ, Tết trong năm của đồng bào Khmer. Không chỉ là công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo, đây còn là biểu tượng của lòng tín ngưỡng.
Sáng 19-4, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam với chủ đề “Bản hòa âm đa sắc”. Chương trình diễn ra trong 3 ngày từ 19 đến 21-4 với sự tham gia, tụ hội của đại biểu cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam.
Từ ngày 19 đến 21-4, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội), sẽ diễn ra các hoạt động chào mừng “Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam” năm 2019 (19-4).
Chúng tôi xuống công tác tại xã biên giới Mỹ Đức (Hà Tiên, Kiên Giang) và may mắn được gặp ông Chau Bên, người được phong Đại đức và bổ nhiệm trụ trì chùa năm 24 tuổi. Bước chân qua cổng chính chùa Khetaparivena (chùa Xà Xía mới), tôi như lạc vào một khu vườn rợp mát bóng cây, với nhiều loài hoa khoe sắc, tỏa hương. Khuôn viên chùa rộng rãi, chánh điện lớn nổi bật với bộ mái cao được lợp tôn đỏ. Sự đổi thay của nhà chùa hiện nay có một phần đóng góp đáng kể của Đại đức Chau Bên.
Theo phong tục của đồng bào Khmer Nam bộ, hàng năm cứ vào cuối tháng 8 và đầu tháng 9 âm lịch, bà con lại nô nức tổ chức lễ Sene Dolta - Lễ Vu lan, báo hiếu nhằm tưởng nhớ công ơn cha mẹ, họ hàng, cầu phước cho linh hồn những người đã khuất và tri ân tổ tiên...
Sự nghiệp đổi mới của Đảng ta đã và đang giành được những thành tựu to lớn, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh. Một đất nước Việt Nam giàu mạnh là điều mà các thế lực phản động và thù địch không mong muốn. Vì vậy, chúng đã, đang và sẽ tiếp tục chống phá công cuộc đổi mới của Đảng, Nhà nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Mũi nhọn tấn công của địch là mặt trận “tư tưởng”, đối tượng tấn công chủ yếu là lực lượng vũ trang nhân dân. Vì
Người Khmer “sinh ra đã biết múa hát”. Họ có rất nhiều điệu múa: rămvông, lămleo, saravan, sedum..., nhưng phổ biến nhất vẫn là múa lâm thôn, bởi điệu múa này khá gần gũi và thân thiện, vừa thiêng liêng, vừa là nhu cầu tinh thần sau những giờ lao động. Nghệ thuật múa lâm thôn luôn được bà con Khmer trân trọng và giữ gìn như một tài sản tinh thần vô giá mà ông cha đã dành tặng.