Biên phòng - Hà Tông Mục (Hà Tôn Mục), tự là Hậu Như, có các hiệu Thuần Như, Chuyết Trai, Đôn Phủ (1653-1707) là một danh thần nổi tiếng thời Lê Trung Hưng, có nhiều công trạng với đất nước.
Hà Tông Mục đỗ tiến sĩ năm 1686, lại đỗ đầu kỳ thi ứng chế, tức kỳ thi dành cho các tiến sĩ ở điện Vạn Thọ với đề thi trực tiếp vua ra. Mấy năm sau, ông lại đỗ khoa Đông Các, khoa thi đặc biệt chỉ dành cho những người đã đỗ tiến sĩ và đang làm quan. Ông từng giữ các chức quan trọng như: Nội tán thủy sư (coi việc thủy quân), Biên tục quốc sử quán, Đốc đồng (trấn giữ) hai xứ Tuyên - Hưng (Tuyên Quang và Hưng Hóa), Phủ doãn phủ Phụng Thiên (đứng đầu Kinh đô), Chánh sứ, Tả thị lang bộ Hình... Hiện nay, ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội, tấm bia tiến sĩ lập năm Vĩnh Thịnh thứ 18 (1717) có ghi tên Hà Tông Mục đồng tiến sĩ xuất thân.
Tháng 4 năm 1697, năm Chính Hòa thứ 18, Hà Tông Mục làm Phủ doãn phủ Phụng Thiên kinh thành Thăng Long. Ông cùng các ông Lê Huy, Nguyễn Quý Đức và 20 tiến sĩ soạn cuốn lịch sử "Đại Việt sử ký tục biên".
Năm Chính Hòa thứ 20 (1699), Hà Tông Mục được triều đình nhà Lê giao trọng trách đàm phán, đấu tranh với đại diện triều đình nhà Thanh, ngăn chặn không cho quân Thanh xâm chiếm châu Bảo Lạc (tỉnh Cao Bằng). Tháng 4 năm 1699, vua Lê ra lệnh cho Hà Tông Mục cùng Nguyễn Hành kinh lược miền Tây châu Bảo Lạc. Châu Bảo Lạc có biên giới giáp với châu Trấn Yên của nhà Thanh.
Trước đó, quân Thanh đã vượt biên giới sang Bảo Lạc cướp bóc, nhũng nhiễu làm nhân dân địa phương rất đói khổ phải bỏ sản xuất, ruộng nương, nhà cửa vào rừng sâu lánh nạn. Quan quân địa phương yếu thế không thể chế ngự được chúng.
Hà Tông Mục đến Bảo Lạc nắm tình hình rồi gửi thư cho viên quan Sầm Sa Phương, đại diện quan quân nhà Thanh nói rõ sự việc xảy ra, phân tích phải trái với lý lẽ sắc bén, nêu lên những hành động vi phạm nghiêm trọng đến mối quan hệ bang giao giữa hai nước của quân Thanh. Sầm Sa Phương đáp thư, tỏ ý hổ thẹn và tạ lỗi, xin rút quân về nước. Nhờ đó, nhân dân vùng biên ải Bảo Lạc được an cư lập nghiệp, yên ổn làm ăn.
Khi trở về kinh đô Thăng Long, Hà Tông Mục được chúa Trịnh khen là người có tài ngoại giao và phong làm Tự Khanh hành, đô cấp sự trung.
Năm Quý Mùi (1703), triều đình cử Hà Tông Mục làm Chánh sứ sang triều đình nhà Thanh để tìm cách giải quyết hòa hiếu giữa hai nước. Hà Tông Mục đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Do ứng xử, đối đáp khéo léo, thông minh, Hà Tông Mục được vua Khang Hy nhà Thanh rất nể trọng, tặng cho một bức đại tự, do chính nhà vua viết ba chữ "Nhược xung hiên", khắc gỗ và sơn son. Bức đại tự này hiện còn lưu giữ tại đền thờ Hà Tông Mục ở quê hương ông, ba chữ đó nghĩa là "khiêm nhường, trí tuệ và chí khí cao cả".
Sự thành công trong công việc giải quyết các vụ xâm lấn biên giới ở Bảo Lạc năm 1699 và trong lần đi sứ năm 1703 của Hà Tông Mục, đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng một thời kỳ bang giao hòa bình, hữu hảo, biên giới giữa hai nước láng giềng bình yên trên nửa thế kỷ. Ông thực sự là một nhà ngoại giao tài năng, xuất sắc.
Ngày 16 tháng 2 năm Giáp Thân (1704), ông được thăng chức Tả thị lang bộ Hình, tước Hoan Lĩnh nam. Năm Bính Tuất (1706), ông giữ chức Tham chính, Thừa chính xứ Sơn Nam. Do bệnh nặng, Hà Tông Mục mất ngày 7 tháng 3 năm Đinh Hợi (1707).
Đánh giá công trạng của Hà Tông Mục, các triều Lê, Nguyễn đã ban tặng 8 đạo sắc phong. Sắc phong năm Chính Hòa 14 (1693) đời vua Lê Hy Tông viết: "Sắc phong Hà Tông Mục, người có tâm thuật, giỏi gánh việc công, am tường từ chương".
Sắc phong năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707) thời vua Lê Dụ Tông viết: "Sắc phong Quang tiến Vĩnh Lộc đại phu Bồi tụng, Hình bộ tả thị lang Hoan Lĩnh nam Hà Tông Mục, dự trúng Tiến sĩ, trải giữ các chức, phụng sự lâu năm, đi sứ phương Bắc, chăm lo việc nước có công, nay mất tại chức, thực đáng xót thương. Chuẩn y tặng: Đặc tiến Kim tử Vinh Lộc đại phu, Công bộ Thượng thư, Hoan Lĩnh tử, đặt thụy là Mẫn Đạt".
Ở quê Hà Tông Mục, nhân dân lập đền thờ, tôn ông làm ông tổ của làng (Thành hoàng).
Ngày 22-1-1999, đền thờ Hà Tông Mục ở quê ông (xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích văn hóa cấp quốc gia. Cũng tại quê hương ông, một trường học phổ thông được mang tên ông: Trường Tiểu học Hà Tông Mục.






