Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 10:54 GMT+7

Tấm lòng người vợ lính

Biên phòng - Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc vẫn còn ghi danh biết bao anh hùng, liệt sĩ đã cống hiến, hy sinh vì độc lập - tự do của Tổ quốc. Trong đó, có những con người vẫn thầm lặng hy sinh, làm hậu phương vững chắc cho người lính xông pha ngoài mặt trận. Tôi muốn viết về bà, một người vợ lính cả cuộc đời đã kiên gan vượt mọi gian khó, gánh vác thay chồng, hoàn thành trọn vẹn mọi công việc xã hội và gia đình. Bà là Nguyễn Thị Nhã, vợ người lính có gần 50 năm cống hiến cho cách mạng.

ywf0_21a-1.JPG
Tập thơ về một thời gian khó được bà Nhã ghi lại hoàn toàn bằng trí nhớ.
Trong ngôi nhà tập thể khu K9 (phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) mà ông Hoàng Tấn, chồng bà Nhã được Nhà nước cấp cách đây hơn 20 năm, tôi lắng nghe câu chuyện về cuộc đời bà, cuộc đời mà như bà nói "lắm nỗi truân chuyên".

Cũng giống như bao nhiêu người con gái đến tuổi cập kê trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, năm 1947, do sự sắp đặt của cha mẹ hai bên, bà về làm vợ ông khi hai người chưa hề biết mặt nhau. Sau ngày cưới, ông Tấn tình nguyện lên đường đi làm cách mạng theo tiếng gọi của Tổ quốc. Rồi ông đi đằng đẵng hết chiến dịch này đến chiến dịch khác. Chưa kịp quen hơi, bén tiếng mà đã xa cách liên miên, vậy mà "hình ảnh của ông luôn trong trái tim bà. Bà nhớ ông lắm và tự răn mình luôn vượt mọi gian khó để giữ trọn lòng chung thủy với chồng". Những kỷ niệm về một thời xa xưa vẫn làm bà Nhã xúc động như vừa mới hôm qua. Hôm ấy, đang ở trên rừng chặt củi, nghe người bạn cùng xóm nói vừa nhìn thấy chồng bà đi về làng. Bỏ mặc bó củi đang buộc dở, bà Nhã chạy một mạch về làng, nhưng người lính ấy không phải là chồng bà. Bà Nhã ngã quỵ, mồ hôi hòa nước mắt mặn chát. Bà cứ ngồi bất động như thế đến khi người làng phải dìu, bà mới về được đến nhà. Rồi lần đầu khi nhận được thư chồng. Thư ngày ấy được viết bằng mực tím trên giấy bản màu trắng đục, sần sùi. Chiến tranh, việc vận chuyển thư khó khăn, đường sá cách trở nên khi thư đến tay người nhận cũng đã qua nhiều tháng, nhàu nát. Bà Nhã phải thả thư vào chậu nước để giấy phẳng ra, chữ nổi lên mới đọc được. Hôm đó, bà vừa đi chăn bò vừa đọc thư ông. Thời điểm ấy, bà Nhã mới theo học lớp bình dân học vụ được mấy ngày. Khi bà chật vật đánh vần được 2 từ, ngẩng lên thì bò đã chạy đi đâu mất. Đứng lên tìm bò rồi lại ngồi mải miết đánh vần. Tất cả những khoảnh khắc đó đều được bà Nhã ghi lại bằng những bài thơ thật xúc động. Bà có biệt tài ứng khẩu thành thơ bất cứ lúc nào. Với bà, làm thơ chính là một vũ khí để động viên tinh thần mỗi khi nhớ chồng.

Và thời kỳ đó, cái "biệt tài" làm thơ của bà cũng đã đóng góp rất nhiều trong việc khích lệ tinh thần thanh niên địa phương tích cực tham gia kháng chiến. Trong vai trò là Trưởng Ban tuyên truyền huyện Đô Lương (Nghệ An), những vở kịch, bài thơ, bài hát do bà tự sáng tác và thể hiện đã tạo ra không khí hừng hực, thi đua sôi nổi hướng ra tiền tuyến. Tôi dè dặt đặt câu hỏi rằng, đến bây giờ có bao giờ bà trách móc vì chiến tranh đã gây ra bao cuộc ly tán? Bà nói: "Không ai muốn chia ly, nhưng để bảo vệ Tổ quốc thì sẵn lòng hy sinh. Ngày đó, thanh niên sống có lý tưởng lắm, dù gian nan, khó nhọc, nhưng đó là một thời đáng nhớ".

Sau ngày hòa bình lập lại, cuối năm 1954, bà Nhã chuyển ra Hà Nội sống cùng chồng sau 7 năm xa cách. Nhưng có lẽ do ảnh hưởng của những trận đánh liên miên của ông Tấn trong hàng loạt chiến dịch lớn như Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên Phủ... mà mãi đến năm 1960, ông bà mới sinh con trai đầu lòng, khi bà Nhã đã 35 tuổi. Rồi liên tục sau đó, bà Nhã sinh thêm cho ông 3 người con trai nữa. Cũng vào thời điểm đó, ông Tấn được giao nhiều trọng trách trong lực lượng Công an nhân dân vũ trang (nay là BĐBP), lại lên đường với những chuyến công tác trên khắp các dải đất biên cương Tổ quốc. Một mình bà gồng gánh nuôi 4 con ăn học. Đôi lúc, sức lực cạn kiệt, bà cũng thầm trách chồng. Bản thân ông Tấn cũng chia sẻ: "Trong thời chiến, cũng như thời bình, khi còn công tác, mọi suy nghĩ của tôi đều hướng về công việc".

Thời gian khó đã qua, nhưng ký ức về những ngày tháng ấy đã hằn dấu trong suy nghĩ của bà Nhã để đến bây giờ bà vẫn thương nhớ, lo lắng cho các con từng bữa ăn, giấc ngủ, mặc dù 4 người con trai của ông bà nay đều đã phương trưởng và thành đạt. Có người là giáo sư, tiến sĩ, người là kỹ sư, sỹ quan BĐBP.

Bà Nhã nhớ lại, khi còn làm công nhân Nhà máy Văn phòng phẩm Hồng Hà, hôm ấy, đang giờ làm việc, vì từ sáng chưa ăn gì nên bà đói lả, chân tay rời rã, bà Nhã trốn ra đống củi sau nhà máy nằm lịm. Chị quản lý phân xưởng trông thấy, vội vào bếp lấy cho bà bát cơm với 4 miếng thịt. Bà Nhã chỉ ăn cơm còn gói 4 miếng thịt mang về nhà xào với rau muống, thêm thức ăn cho con. Hàng ngày, hết giờ làm, bà Nhã xin nhà máy những thùng gỗ hỏng buộc đằng sau xe đạp rồi rao bán dọc đường về nhà. Mặc dù nghèo như vậy, nhưng khi bán củi, bà không ngã giá, mà tùy tâm khách trả bao nhiêu cũng được, nên nhiều người quý mến. Thời kỳ ấy, bà cũng làm ở nhiều cơ quan nhưng phần vì con cái nheo nhóc không ai trông, phần vì đồng lương quá eo hẹp nên sau 15 năm làm việc gián đoạn, bà quyết tâm xin nghỉ để buôn bán nuôi con. Cũng từ đó, nhờ sự tháo vát, nhanh nhạy của bà Nhã, cuộc sống gia đình dần có của ăn của để. 4 người con trai của ông bà đều học rất giỏi, trở thành nguồn động viên bà vượt mọi trở ngại, khó khăn.
dk8x_21b-1.jpg
Con cháu đã và sẽ mãi là động lực để bà Nhã vui sống mỗi ngày.  Ảnh: K. Nguyên

Ngồi nghe câu chuyện của bà Nhã, ngoài trời vẫn mưa tầm tã. Những ngày trở trời, căn bệnh zona thần kinh làm bà đau buốt. Bà tâm sự, với phụ nữ khi đã 88 tuổi, được như bà là "của hiếm", con cái chưa phải "hầu" một ngày nào. Mà thực sự bà là "của hiếm" thật. Bà mang cho tôi xem tập thơ chép bằng tay của bà. Tôi ngỡ ngàng, chữ của bà đẹp như chữ giáo viên lớp 1, từng hàng nắn nót. Và cũng đáng khâm phục hơn nữa là tất cả những bài thơ này được bà Nhã chép lại bằng trí nhớ, bởi trước đây bà hoàn toàn ứng khẩu mà không có thời gian ghi lại. Tập thơ mới được bà làm cách đây hơn 6 năm với mong muốn của gia đình, dòng họ muốn lưu giữ lại để giáo dục con cháu. Tập thơ của bà Nhã chắc sẽ còn dài, dài mãi bởi bây giờ bà vẫn thường xuyên ứng khẩu thơ trong mỗi khoảnh khắc của cuộc sống hàng ngày mà bà xúc cảm. Thơ khuyên cháu khi thấy cháu chưa ngoan, thơ đả kích những kẻ tham nhũng, buôn lậu khi được nghe những câu chuyện kể trong cuộc họp người cao tuổi, thơ khi đi chợ nhìn thấy chị lao công đang nặng nhọc đẩy xe rác... Bà Nhã cũng đang ấp ủ ý tưởng bài thơ về Đại tướng Võ Nguyên Giáp và dự định sẽ đọc trước mộ Đại tướng trong một ngày gần nhất. 

Bà Nhã đã sống một cuộc đời thật đáng sống, như bao nhiêu những người vợ, người mẹ khác trong thời chiến. Câu chuyện của bà đáng để những thế hệ đang được hưởng không khí của một thế giới hòa bình và hội nhập thêm hiểu, thêm trân trọng những giá trị của cuộc sống, của mối quan hệ giữa con người với con người.
Hạnh phúc vẫn luôn hiện hữu trong ngôi nhà của đôi vợ chồng già.
Khôi Nguyên

Bình luận

ZALO