Biên phòng - Tuy chưa có một định nghĩa về thơ hoàn hảo. Nhưng không người cầm bút làm thơ nào không biết đến đặc trưng của thơ là "Ý tại ngôn ngoại". Nghĩa là ý ngoài lời. Hay ý dài (rộng) hơn lời. Tuy nhiên, khi làm, ta lại không nhớ điều đó. Nên nhiều bài thơ "ý tại ngôn cũng tại".
Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi
Từ sự thật, tác giả đã nâng lên một bước làm ta "thân thuộc" với cóc hơn, vì cóc "đẹp" hơn vốn có. Thông thường cóc ở xó xỉnh hay trong hang hốc để tiện rình mồi. Chỉ khi mưa gió, cóc mới nhảy ra vườn hay sân để dễ kiếm ăn. Vậy mà Lê Thánh Tông lại viết:
Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi.
"Chốn nghiêm" mà tác giả mô tả làm cho cóc "oai" thêm, nếu không là nơi cung điện, thì cũng là nơi đàng hoàng. Đến đây, người đọc vẫn tưởng Lê Thánh Tông tả về cóc. Nhưng câu 3:
Tép miệng dăm ba con kiến gió.
Ta thấy "cuộc sống" của cóc thật là đơn giản, chẳng cầu kỳ gì, chỉ ăn côn trùng phá hoại hoa màu. Nghĩa là cóc thực sự có ích cho đời. Đấy là chưa nói đến thịt cóc bổ dưỡng cho sức khỏe - nhất là trẻ em.
Và câu 4, cóc ăn giản dị thế thôi. Nhưng khi cóc "nghiến răng" thì sau đó là sấm chớp mưa bão: Nghiến răng chuyển động bốn phương trời.
Sự so sánh thật tuyệt vời! Ta thấy Lê Thánh Tông không chỉ nói về cóc, mặc dù tác giả đặc tả về cóc ăn ở... xoàng xĩnh. Vậy mà khi cóc kêu, thấu cả thiên đình!
Ca dao cũng đã viết: Con cóc là cậu ông trời/Ai mà đánh nó thì trời đánh cho. Lê Thánh Tông cũng nhắc nhở chúng ta: Đừng bao giờ coi thường hay khinh miệt điều bình thường, thậm chí tầm thường. Đó là "ý tại ngôn ngoại". Sở dĩ bài thơ "sống" được đầu tiên phải là ý dài hơn lời. Rồi không thể thiếu ví von, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, suy tưởng, triết lý, hình ảnh... Thiếu nó, bài thơ chỉ là văn xếp vần.
Có thể nói, đọc thơ như xem hình ảnh ba chiều. "Nghiêng" phía này, câu thơ khác đi. "Ngó" bên kia, câu thơ lại sinh động hơn nhiều... Ai đó nói "Thơ là bức tranh của ngôn từ, cấu trúc... Còn với tranh ảnh là thơ của màu sắc đường nét, ánh sáng..." cũng có lý.
Có bài thơ chỉ 2 câu mà nó găm vào trí nhớ ta: Tàu về rồi tàu lại đi/ Khối vô hình ấy nhớ gì sân ga - Thơ Đỗ Thị Quế - Ngân Giang (viết lúc lên 6 tuổi). Câu thơ như nhắc ta: Đừng quên quá khứ!...
Nhà thơ Anh Ngọc cũng viết: Tôi không bao giờ tha thứ cho mình/ Đã có lúc viết vần thơ dễ dãi/ Những câu thơ nằm biếng lười uể oải/ Trên chiếc giường của trang giấy trắng tinh (Tôi không bao giờ).
Bao mồ hôi, nước mắt mới làm ra giấy, bút, mực. Vậy ta viết thế nào? Đừng viết những câu thơ "vô thưởng vô phạt", hay những câu thơ khó hiểu như "mộc tồn" là thịt chó.
Thơ dài hay ngắn không quan trọng, song nó phải vừa đủ. Chiều thì nhiều người đã viết. Song 4 câu lục bát của Xuân Cường đọc đâu dễ quên: Cánh diều thả khúc nhạc mồi/ Nhử bóng mặt trời sà xuống khe non/ Gió vun nắng thành đống rơm/ Bò nằm rút sợi hoàng hôn... gặm dần.
Cái trò chơi ta đam mê từ nhỏ. Đó là thú thả diều lúc chiều đi chăn trâu. Xuân Cường (họa sĩ) đã vẽ lên thành "khúc nhạc mồi" mới lý thú. Nó "nhử" cả "bóng mặt trời" mới tuyệt làm sao! Ánh chiều tà màu vàng lẫn với màu xanh của khe suối đang non tơ không chỉ tận xa kia. Mà màu vàng của mặt trời gần gũi với cả đống rạ, đống rơm. "Gió vun nắng" để "thành đống rơm" mới tài tình! Và cũng không chỉ có vậy: Bò nằm rút sợi hoàng hôn... gặm dần. Câu thơ kết mà "âm vang" của nó, cái âm thanh tuyệt diệu ấy lẫn vào trái tim khối óc ta, ám ảnh ta mãi...
Nhà thơ Phi Tuyết Ba kiệm lời đến lạ lùng ở bài “Hai nửa”: Trời cho hai nửa/ Là em và anh
Điều ấy ai chẳng biết. Nhưng câu 3: Từ hai mảnh vỡ.
Tác giả "tung ra" điều thường tình giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng... Có lúc "vỡ!" vì nhiều lý do khách quan đem lại hoặc chủ quan ngoài ý muốn. Và câu thứ tư: Thách ta ghép lành.
Từ "thách" tác giả sử dụng rất đắt giá!
Thu Bồn cũng đã nói điều này: Tình yêu: Dòng sông chảy không hề biết mỏi/ Trọn đời dâng cho bờ bãi phù sa/ Tình yêu ta như dòng sông ấy/ Khi gặp thác ghềnh:/ Tung bọt trắng hát ca. Ở đây tác giả mới khuyên ta, còn Phi Tuyết Ba là "đố" ta làm sao để 2 mảnh vỡ kia lành lại? Câu thơ vừa vui mà ứa nước mắt ra! Chỉ 16 từ (chữ) ta có bài thơ chép trong sổ tay hay trong ký ức.
Đấy là những bài thơ ngắn. Thơ dài như "Hịch tướng sĩ" hay "Bình Ngô đại cáo", những dòng văn ấy tồn tại mãi với dân tộc ta. Vậy thì ngắn hay dài vẫn phải hay!
Về Tre, Thép mới đã khái quát, ta được học từ bé! Vậy mà Nguyễn Duy đã dám "vượt mặt" bậc đàn anh để viết bài Tre Việt Nam: Tre xanh/ xanh tự bao giờ/ Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh…
Sở dĩ bài thơ Tre Việt Nam được giải A (cùng Bầu trời vuông, Hơi ấm ổ rơm) Báo Văn nghệ 1972-1973 rồi được tuyển chọn vào sách giáo khoa và "găm" vào bạn đọc, vì tác giả lấy tre làm "đối tượng" mô tả. Song đó là cả một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Ngày nay cũng nhiều tác giả với những bài thơ hay. Song bên cạnh cũng nhiều bài thơ đọc mãi, đọc mãi mà không hiểu tác giả nói gì. Đành rằng thơ là sáng tạo của sáng tạo. Mỗi người viết phải khám phá để nâng dần trình độ thưởng thức của bạn đọc. Song ta "nâng dần" không xa với tầm hiểu biết của độc giả.
Tác giả Văn Thùy (chuyên thơ lục bát, chép tay bán tại Văn Miếu mỗi dịp Tết và Ngày thơ Việt Nam, đắt hơn tôm tươi) từng than vãn:
Xổ ra một đống thơ tình
Nửa thành giấy góa, nửa rình tặng nhau.
"Rình tặng nhau" mới hiếm!
Tôi có anh bạn thơ tận Hà Nam, (Phong Lê) anh là lớp trưởng Đại học Văn hóa K2. Phong Lê tâm sự: Nhiều thơ quá! Đọc rất khó. Anh khuyên tôi:
Gặp nhau tay bắt mặt mừng
Tặng gì thì tặng xin đừng tặng thơ!
Khổ vậy!
Đất nước của thi ca là mừng! Nhưng viết sao cho thơ đúng là thơ và phải viết cho ai? Đấy là vấn đề cần làm cho thơ phải là rượu (Rượu Vân) chứ không phải là "cơm" như văn. Dù Để đời nhớ được một câu/ Bạc đầu người viết chắc đâu đã thành".
Hoặc: Thơ là rượu của thế gian/ Phải đâu nước lọc rót tràn nuôi nhau.
(Gửi bạn làm thơ - Huy Thụ)






