Biên phòng - Trong lịch sử nước ta, vương triều Lý được coi là triều đại đã đặt nền móng cho việc học và thi cử. Thi cử được bắt đầu từ năm 1075, khi vua Lý Nhân Tông (1072-1128) cho mở khoa thi Nho học đầu tiên gọi là khoa Tam trường để chọn những người học rộng, hiểu sâu kinh sử. Vì vậy, khoa thi này còn được gọi là khoa thi Minh Kinh bác học. Người đỗ đầu khoa này là Lê Văn Thịnh.
![]() |
| Đền thờ Thái sư Lê Văn Thịnh, thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Ảnh: Internet |
Theo thần phả ở đền Thượng, làng Bảo Tháp (xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, Bắc Ninh) do Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính Phụng soạn, cũng như truyện kể dân gian và sử sách nhiều đời thì Lê Văn Thịnh sinh ngày 11 tháng 2 năm Canh Dần (1050) ở khu Bảo Tháp. Cha ông là Lê Thành, làm nghề dạy học và làm thuốc; mẹ là Trần Thị Tín ở trang Ngô Xá (nay là làng Thi Xá, xã Cách Bi, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh). Lên 7 tuổi, Lê Văn Thịnh đi học. 13 tuổi, kinh, sử, thi, thư ông đều biết, thiên văn địa lý tỏ tường, học trò thời ấy thán phục, gọi Văn Thịnh là thần đồng.
Đến năm 18 tuổi, bố mẹ mất, Văn Thịnh lo an táng cho bố mẹ chu đáo và ở nhà hương khói thờ phụng. Sau ngày đoạn tang, Văn Thịnh đến Chi Nhị trang (nay là làng Chi Nhị, xã Song Giang, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh), thấy dân nơi đây quê mùa, thật thà và ít học vấn, ông bèn vận động dựng trường để ông dạy học cho dân. Về sau dân nơi đây biết chữ, lễ, nghĩa là do công của Lê Văn Thịnh truyền dạy.
Thời Lý Nhân Tông nối nghiệp trị vì đất nước, năm Ất Mão (1075) mở khoa thi Minh Kinh bác học và Nho học Tam trường, Lê Văn Thịnh đỗ đầu, trở thành bậc khai khoa của các nhà khoa bảng nước ta. Ông được phong Thị độc chi chức (hầu vua học) và làm đến chức Thái sư - một chức quan to vào bậc nhất trong triều.
Từ khi Lê Văn Thịnh thi đỗ thủ khoa và được bổ dụng làm quan, ông đã đem hết trí tuệ và tài năng của mình để phụng sự triều đình. Ngay sau khi đậu thủ khoa năm 1075, Lê Văn Thịnh được vào hầu vua học (thực chất là dạy vua) (lúc này vua Lý Nhân Tông mới 9 tuổi).
Năm Giáp Tý (1084), Lê Văn Thịnh lúc này đã làm Thị lang Bộ Binh được vua giao đến trại Vĩnh Bình (Quảng Tây, Trung Quốc) để cùng với người Tống bàn việc cương giới. Trong việc hoạch định biên giới, nhà Tống trả cho nhà Lý 6 huyện và 3 động. Người Tống có thơ rằng:
"Nhân tham Giao Chỉ tượng,
Khước thất Quảng Nguyên kim".
Nghĩa là:
Vì tham voi Giao Chỉ,
Bỏ mất vàng Quảng Nguyên.
Việc hoạch định biên giới này, có công lao rất lớn của Lê Văn Thịnh qua những lần hội đàm với nhà Tống. Ở đây, có thể lấy ví dụ cụ thể trong lần đi sứ năm Giáp Tý (1084) của Lê Văn Thịnh như sau:
Vào hội nghị, phía Tống khẳng định: "Những đất mà quân nhà vua (Tống) đã đánh lấy thì đáng trả cho Giao Chỉ. Còn những đất mà các người coi giữ, mang nộp để theo ta (vua Tống) thì khó mà trả lại".
Lê Văn Thịnh thẳng thắn trả lời quan nhà Tống: "Đất thì có chủ. Các viên quan coi giữ (họ Nùng) mang nộp và trốn đi thì đất ấy thành vật ăn trộm của chủ (vua Lý). Sự chủ giao cho mà tự lấy trộm đã không tha thứ được, mà trộm của hay tàng trữ (của ăn trộm) thì pháp luật cũng không cho phép. Huống chi nay, chúng lại mang đất trộm dâng, để làm nhơ bẩn đất của nhà vua (Tống)".
Lê Văn Thịnh đã dùng lý lẽ biện luận theo pháp luật để phân biệt việc ủy nhiệm cho quản lý khác với quyền sở hữu. Các tù trưởng thiểu số chỉ có quyền quản lý đất đai của vua Lý chứ không có quyền sở hữu đất của vua Lý. Dưới chế độ phong kiến ngày xưa, đất đai là thuộc quyền sở hữu của vua (Thiên tử). Đã không có quyền sở hữu thì tất không có quyền cho hay bán cho người khác. Vậy các tù trưởng không được phép mang nộp đất của vua Lý cho bất kỳ ai. Người nộp đất ấy là bất hợp pháp và người nhận đất ấy cũng bất hợp pháp.
Từ năm 1042, vua Lý đã ban hành Bộ luật Hình thư để quản lý đất nước theo pháp luật; vì vậy, những lý lẽ của Lê Văn Thịnh cũng là sự phát triển của luật hình nước ta mà Lê Văn Thịnh đã vận dụng. Bằng lời lẽ ôn tồn và có chứng cứ rõ ràng chắc chắn, ông đã buộc nhà Tống phải trả lại cho nước ta 6 huyện, 3 động ở Cao Bằng như đã nói ở trên. Theo sử liệu, thì trong dịp này, Lê Văn Thịnh còn được vua Tống ban chức Long đồ các Đãi chế. Việc phong chức cho một vị Chánh sứ xuất thân từ khoa bảng như Lê Văn Thịnh, càng chứng tỏ sự công nhận và nể phục của triều đình phong kiến Trung Hoa đối với trí thức Nho học nước ta thời Lý.
Khi trở về nước, tháng 8 năm Ất Sửu (1085), Lê Văn Thịnh được vua Lý phong chức Thái sư - chức quan đại thần to nhất trong triều. Trong thời gian làm Thái sư, Lê Văn Thịnh đã thi hành một loạt chính sách tiến bộ: Năm 1086, đặt lệ thi tuyển người vào Hàn lâm viện. Năm ấy, Mạc Hiển Tích trúng tuyển là Hàn lâm viện học sĩ. Năm 1088, định các chùa trong nước làm ba hạng: Đại, trung và tiểu danh lam, cho quan văn chức cao kiêm làm Đề cử vì bấy giờ, nhà chùa có điền nô và đồ vật chứa trong kho. Năm 1089, định các chức quan văn võ, quan hầu vua và các chức tạp lưu. Năm 1092, định số ruộng thu tô mỗi mây 3 thăng để cấp lương cho quân.
Với những sự kiện trên, chúng ta thấy rõ, Lê Văn Thịnh quả là một nhà cải cách dũng cảm, đưa dần các thiết chế chính trị của Nho giáo vào một vương triều Phật giáo. Cải cách của Lê Văn Thịnh về ruộng đất cho thấy, cách đây hơn 900 năm, ông đã đặt cơ sở cho một cuộc cải cách điền địa rất có hiệu quả và biết trọng quyền lợi nông dân. Vì thế mà quyền lợi của tầng lớp hữu sản, chủ yếu là quan lại, hào phú bị tổn thương nên họ có phản ứng rất quyết liệt với ông, dẫn đến sự việc ông bị án oan. Đầu năm 1096, trong một lần đi chơi hồ Dâm Đàm (Hồ Tây) với vua, do nhầm lẫn mà ông bị vu oan là có ý định giết vua và bị đày đi trại Thao Giang (Phú Thọ). Ít lâu sau, ông mất ở làng Đình Tổ (Bắc Ninh).
Hiện, quê hương của Lê Văn Thịnh có hai khu di tích lập ra để thờ ông (ở Thuận Thành và Gia Bình) và khu lăng mộ của ông cũng đã được trùng tu nhiều lần. Hằng năm có rất nhiều du khách bốn phương về đây để thắp hương cho ông và tận mắt nhìn thấu nỗi oan khiên kéo dài cả nghìn năm. Đền thờ Lê Văn Thịnh tọa lạc ở sườn phía Nam núi Thiên Thai, nay thuộc thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.
Đây là nơi tôn thờ sâu sắc về vị khai khoa Nho học đầu tiên ở nước ta - Thái sư Lê Văn Thịnh, một danh nhân tiêu biểu, vị sứ thần tài năng có nhiều công lao to lớn với vương triều Lý và đất nước ta. Trong ngôi đền có pho tượng rồng đá "miệng cắn thân, chân xé mình" được các nhà nghiên cứu đánh giá là "độc nhất vô nhị" chưa từng có trong nền mỹ thuật Việt Nam.
Thời nhà Lê, đời Cảnh Hưng năm thứ 28 (1767) và các triều đại phong kiến sau này đều ghi công và gia phong Thái sư Lê Văn Thịnh làm thành hoàng.
Ngày 5-2-1994, Nhà nước ta cấp Bằng công nhận di tích Lịch sử - Văn hóa đền thờ Thái sư Lê Văn Thịnh tại thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.







