Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 09:32 GMT+7

Thảm họa lũ quét, sạt lở đất ngày càng bất ngờ, dữ dội

Biên phòng - Trong những năm gần đây, tình hình thiên tai ở các tỉnh miền núi phía Bắc ngày càng diễn biến phức tạp, đặc biệt là hiện tượng lũ quét, sạt lở đất xảy ra ở nhiều nơi, với mức độ ngày càng gia tăng, gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản và môi trường sinh thái. Trong khi đó, việc phòng, chống, chế ngự đối với hiểm họa này không phải dễ dàng. 

xqdw_13-1.jpg
Vét bùn đất giúp dân quay về nhà ở sau khi lũ rút. Ảnh: Mạnh Thắng
 
Thiệt hại kinh tế hàng nghìn tỷ đồng

Nhận định về thực trạng lũ quét và sạt lở đất trong thời gian qua, ông Lò Mai Kiên, Phó Chủ tịch tỉnh Sơn La cho rằng, đây là loại hình thiên tai nguy hiểm, phức tạp, khó lường và gây thiệt hại nghiêm trọng nhất về người, tài sản, công trình cơ sở hạ tầng và sản xuất. Thực tế cho thấy, những năm gần đây, tình hình lũ quét, sạt lở xảy ra tại tỉnh Sơn La có nhiều biểu hiện bất thường, rất khó đoán định trước để chủ động phòng, tránh, đối phó, chế ngự có hiệu quả.

Mặc dù Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có kết quả điều tra, đánh giá và phân vùng trên địa bàn 10 tỉnh miền núi phía Bắc, xác định 10.266 điểm có nguy cơ sạt lở đất và 2.110 điểm có nguy cơ bị sạt trượt lớn, rất lớn để cảnh báo các địa phương có biện pháp phòng tránh. Tuy nhiên, nhiều địa phương vẫn còn chủ quan, chưa kể một bộ phận người dân thì bất cẩn dẫn tới thiệt hại rất lớn.

Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai cho biết, từ năm 2000 đến 2014 đã xảy ra hơn 250 đợt lũ quét, sạt lở đất, ảnh hưởng tới các vùng dân cư. Hậu quả làm 748 người chết và mất tích, 405 người bị thương; hơn 9.700 căn nhà bị đổ trôi, hơn 100.000 căn nhà, công trình bị ngập nước, hư hại nặng. Lũ quét, sạt lở đất còn vùi lấp hàng trăm héc-ta đất canh tác; nhiều công trình giao thông, thủy lợi, dân sinh bị hư hỏng nặng nề, thiệt hại kinh tế hàng nghìn tỷ đồng.

Minh chứng về những trận lũ quét, sạt lở đất gây hậu quả nghiêm trọng gần đây, nhất là trận mưa lũ lịch sử tại Quảng Ninh, kéo dài từ ngày 25-7 tới 3-8, làm 17 người chết, trong đó phần lớn do sạt lở đất. Trước nguy cơ sạt lở đất, vỡ bãi thải than, hàng trăm hộ gia đình ở Quảng Ninh đã phải di dời khỏi nhà cửa tới khu vực an toàn ở tạm.

Theo đánh giá của các chuyên gia, Quảng Ninh chưa phải là địa phương có nguy cơ sạt lở đất cao so với các tỉnh vùng núi Tây Bắc như Lai Châu, Điện Biên, Sơn La… Nhưng do mưa kéo dài với lượng mưa lớn, có điểm lên tới hơn 1.000mm khiến cho đất đá bị bão hòa nước, phần đất đá phía trên (phong hóa) bị ngậm nước nên rất dễ dàng bị sạt lở.

Phân tích nguyên nhân xảy ra lũ quét và sạt lở đất cho thấy, ngoài yếu tố khách quan còn do tác động của con người. Do tập quán và điều kiện sản xuất, bà con các dân tộc thường lựa chọn sống gần nguồn nước, ven bờ sông suối, hay trên các sườn núi cao... Đây là những nơi thường hứng chịu nhiều hơn về tần suất xảy ra lũ quét, sạt lở.

"Ngoài ra, việc xây dựng nhà ở, san lấp mặt bằng xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, dân dụng công nghiệp, phát triển sản xuất làm vùi lấp, ngăn cản dòng chảy tự nhiên các sông suối, khe lạch, hang thoát lũ tự nhiên. Quá trình khai thác rừng, khai thác tài nguyên, khoáng sản đã phá vỡ cân bằng sinh thái, thảm phủ thực vật suy giảm dẫn đến nguy cơ gây ra lũ quét, sạt lở, ngập lụt ngày càng cao. Trong khi phương tiện, trang bị công cụ phòng chống thiên tai còn thiếu. Kiến thức và ý thức phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai của người dân còn hạn chế" - Ông Kiên nhận định. 

Rà soát kỹ từng địa bàn, triển khai ứng phó sớm

Tại Hội nghị "Phòng tránh lũ quét, sạt lở đất các tỉnh miền núi" do Ban Chỉ đạo Trung ương Phòng, chống thiên tai tổ chức vào cuối tháng 7 vừa qua, bàn về giải pháp phòng chống lũ quét, sạt lở đất, ông Hoàng Xuân Nguyên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái cho rằng: Phòng tránh lũ quét là việc làm vô cùng khó khăn và phức tạp, phải kiên trì thực hiện lâu dài, từng bước, có kế hoạch, biện pháp cụ thể, đồng bộ.

Trước mắt, cần bổ sung kinh phí để thực hiện dự án di dân ra khỏi vùng nguy cơ sạt lở đất, lũ quét. Xây dựng bản đồ chi tiết tới thôn, bản, nhất là những nơi có khả năng xảy ra lũ quét để lập phương án phòng chống lũ quét có hiệu quả. Về lâu dài, cần tăng cường khuyến khích trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn. Đầu tư xây dựng các công trình phòng chống lũ quét, kiên cố đầu mối các công trình, đặc biệt là hồ chứa, khai thông dòng chảy, xây dựng công trình chống sạt lở bờ sông suối, tăng khả năng thoát lũ.

Chia sẻ kinh nghiệm phòng, chống lũ quét, ông Kiên cho biết: Hàng năm, tỉnh Sơn La đều chỉ đạo chính quyền các cấp, các tổ chức, đoàn thể tại các bản làng, các lưu vực, địa điểm xung yếu trước và trong mùa mưa lũ thường xuyên tổ chức kiểm tra, tuần tra các thung lũng, suối khe thượng nguồn, ngăn cấm những hoạt động xâm lấn, ngăn cản dòng chảy thoát lũ tự nhiên.

Đồng thời chủ động khơi thông, cắt tỉa cây cành, vật nổi, sa bồi, tích tụ tạo thành những bờ ngăn tích lũ, dồn lũ tránh để xảy ra lũ ống, lũ quét bất ngờ, nguy hiểm đến vùng hạ du. Các thôn bản, cộng đồng vùng nguy cơ lũ quét, sạt lở đất xây dựng kế hoạch, nội quy, quy ước, hương ước bảo vệ, phòng tránh, ứng phó với thiên tai, đảm bảo an toàn, ổn định bền vững. Ngăn chặn những hoạt động trong đời sống sinh hoạt và sản xuất không an toàn trong mưa lũ, sạt lở.

Còn theo ông Hoàng Duy Dũng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lào Cai xác định, những lưu vực nhỏ, địa hình dốc, thảm thực vật có rừng già, những nơi ven suối từng có đá lăn đều là khu vực nguy hiểm.

"Do vậy, theo kinh nghiệm của chúng tôi, không nên quy hoạch nơi ở cho dân cư ven bờ suối dốc hoặc làm nhà dưới chân ta luy dốc, bãi đá lăn. Tăng cường công tác tuyên truyền kiến thức cho người dân tự cảnh báo bằng các biện pháp tập huấn, nâng cao nhận biết về các loại hình thiên tai, thường xuyên theo dõi các bản tin thời tiết trên các phương tiện thông tin đại chúng" - Ông Dũng cho biết.

Trong khi đó, Cục Phòng, chống thiên tai, Tổng cục Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng, cùng với việc phát triển công nghệ dự báo thời tiết và thiên tai ngày càng hiện đại, việc xây dựng mạng lưới đo mưa cộng đồng là giải pháp khả thi nhất và phù hợp với thực tế của các địa phương cũng như điều kiện kinh tế hiện nay của nước ta nhằm khắc phục các bất cập và nâng cao hiệu quả trong công tác dự báo và ứng phó với lũ lụt.
Xuân Hương

Bình luận

ZALO