Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 06:26 GMT+7

Thất bại cay đắng của Mỹ trong nấc thang chiến lược cuối cùng

Biên phòng - LTS: Cuộc tập kích chiến lược bằng pháo đài bay B-52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội và một số tỉnh, thành miền Bắc nước ta cuối tháng 12-1972, người Mỹ được gì và mất gì? Giáo sư, Tiến sĩ sử học người Mỹ Ga-bri-en Kôn-cô đã "giải phẫu" cuộc chiến này đăng trên tờ International History, xin giới thiệu cùng bạn đọc.

501v_6-1.jpg
Rồng lửa SAM của quân đội ta trong trận chiến Điện Biên Phủ trên không năm 1972. Ảnh: Tư liệu

Nhà Trắng đã tìm được cách thuyết phục người Việt Nam nối lại các cuộc hòa đàm ngày 20-11-1972. Lúc đó, B-52 ném bom phía Bắc vĩ tuyến 20. Biết rõ chỗ mạnh và chỗ yếu của mình nên Mỹ lừa lọc đưa ra một bảng kê dài các yêu cầu thay đổi, mà một số có tầm quan trọng cơ bản thì phía Việt Nam chấp nhận những điểm nhỏ, nhưng do dự với những điểm còn lại. Lập trường của họ (ý nói Việt Nam) là văn kiện tháng 10 phải được ký nguyên vẹn. (Lẽ ra Hiệp định Pa-ri về Việt Nam được ký kết ngày 31-10-1972, nhưng tập đoàn Ních-xơn Kít-xinh-giơ tráo trở đã tìm cách trì hoãn, sau đó dùng B-52 đánh hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng, hòng giành thế có lợi khi ký Hiệp định.

Tuy nhiên, chiến thắng vĩ đại "Điện Biên Phủ trên không" đã đè bẹp ý chí của đế quốc Mỹ). Cũng trong những tuần đó, người Việt Nam đã sơ tán hai thành phố lớn nhất khi Kít-xinh-giơ đe dọa ném bom. Điều nổi bật trong lúc này là tính chất không tưởng trong cố gắng của Ních-xơn. Ông ta muốn đạt được lợi thế tại bàn thương lượng - cái mà Mỹ đã không làm được trong 10 năm tại chiến trường.

Kít-xinh-giơ nghĩ rằng: Nếu chấp nhận văn bản tháng 10 thì việc đe dọa trở lại chiến tranh bằng không quân sẽ trở nên vô hiệu. Bây giờ, ông dấn thêm một bước là tán thành tăng sức ép quân sự. Ông ta cũng tìm cách vận động người Trung Quốc và người Liên Xô gây ảnh hưởng đến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngụ ý chắc chắn rằng: Ném bom Bắc vĩ tuyến 20 sẽ được tiến hành, nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chấp nhận các yêu cầu của Mỹ.

Ngày 16-12-1972, Kít-xinh-giơ gặp các nhà báo nhưng cố gắng tránh những vấn đề cụ thể ở Pa-ri. Ngày 18-12, Ních-xơn ra lệnh ném bom Hà Nội và Hải Phòng. Ông ta không ngờ có một cơn phẫn nộ mãnh liệt vì các cuộc leo thang trong những tháng trước hầu như không bị phản ứng. Mười hai ngày đêm ném bom kéo dài vào khu vực Hà Nội - Hải Phòng là nhằm hăm dọa và khủng bố Việt Nam, nhưng đồng thời cũng gây sức ép với Liên Xô và Trung Quốc để họ buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi vào quỹ đạo của họ. Nói chung, lúc đó mọi người, kể cả không quân đều thừa nhận rằng: Sử dụng B-52 là rất sai lầm và việc ném bom sẽ không có tác dụng về mặt lâu dài.

Khu vực Hà Nội - Hải Phòng lúc đó được xếp vào loại bảo vệ tốt nhất trên thế giới. Không quân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc bấy giờ rất sung sức. Không quân Mỹ làm việc quá sức sau những tháng hoạt động căng thẳng, thiếu sự yểm trợ của không quân chiến thuật và thiếu trang thiết bị bảo vệ. Sự phối hợp giữa không quân chiến lược và không quân chiến thuật cũng rất kém do trạng thái mất tinh thần lan rộng, do triển vọng hòa bình trước mắt và do làm việc quá sức gây ra. Kỷ luật là một vấn đề ngày càng nghiêm trọng.

Ba tuần trước khi B-52 bắt đầu 12 ngày đêm khủng khiếp, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chuẩn bị đón chúng, sơ tán hơn nửa triệu người Hà Nội. Khi máy bay bắt đầu hoạt động, chúng gây thương vong đáng sợ cho các mục tiêu dân sự, nhưng đồng thời cũng phải trả giá chưa từng có.

Khoảng 200 B-52 được dùng trong các cuộc tiến công, còn không quân chiến thuật bảo vệ thì thiếu đến mức các phi công B-52 coi là quá đáng. Mỹ thừa nhận: 15 B-52 bị bắn rơi, trong khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra con số 34. Ít nhất 6 B-52 không thể bay lại được và một số nhân viên Lầu Năm Góc thừa nhận con số không chính thức rằng, số máy bay bị mất là gần với con số của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra, đó là chưa kể máy bay chiến thuật mà Việt Nam tuyên bố là đã hạ 47 chiếc. Điều gây lúng túng cho Mỹ là Việt Nam đã bắt 44 phi công của họ.

Một sĩ quan thừa nhận: "Chúng tôi đã mất nhiều máy bay và tôi không nghĩ rằng chúng ta dự kiến được cái giá cao như vậy". Ngay với tổn thất mà Mỹ thừa nhận thì cũng có nghĩa là tỷ lệ tổn thất của B-52 trên 10% trong 10 ngày, một con số cao hơn con số mà các phi công có thể chấp nhận và do đó làm cho họ mất tinh thần. Chính quyền Mỹ cho rằng: Hà Nội phải quỳ gối, tên lửa đất đối không đã cạn, nhưng điều chắc chắn hơn là lực lượng không quân Mỹ không thể hoạt động lâu hơn nữa. Vì những lý lẽ vững chắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem cuộc chiến đấu trên bầu trời Hà Nội là một chiến thắng vĩ đại.

Tất cả những điều mà cuộc ném bom vào dịp lễ Giáng sinh năm 1972 đưa lại là cô lập chính quyền Mỹ về mặt chính trị và đặt nó vào thế phòng ngự. Đa số báo Mỹ xem cuộc ném bom này là kinh tởm trong lễ Giáng sinh. Phản ứng trong những nước thân Mỹ cũng rất nghiêm trọng: 47 trong số 73 thượng nghị sĩ các nước được hỏi ý kiến sau khi cuộc ném bom bắt đầu, đã lên án cuộc ném bom, chỉ có 18 tán thành; 45 người tuyên bố: Sẵn sàng ủng hộ đạo luật chấm dứt chiến tranh. Ngày 30-12-1972, Tổng thống Ních-xơn không còn cách gì khác hơn là ra lệnh chấm dứt ném bom Bắc vĩ tuyến 20.

Khi các cuộc thương lượng được nối lại ở Pa-ri, ngày 2-1-1973, chính quyền Mỹ ở thế yếu nhiều hơn. Quốc hội Mỹ lúc này tỏ thái độ quyết liệt và Nhà Trắng không còn lý do nối lại các cuộc tấn công Bắc vĩ tuyến 20 nữa. Ních-xơn cũng muốn nhanh chóng có một Hiệp định hòa bình và sẵn sàng chấp nhận dự thảo tháng 10. Chỉ Kít-xinh-giơ còn muốn bàn thêm một vài nhượng bộ để gỡ thể diện. Thiện chí bị gạt ra một bên. Trong các cuộc thương lượng tháng 11 và tháng 12, cả hai bên đưa ra và rút lại nhiều điểm, nhưng không điểm nào ảnh hưởng đến thực chất của Hiệp định tháng 10. Những thay đổi về câu, chữ được thông qua nhanh chóng ở Pa-ri. Mỹ không gạt bỏ được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, nghĩa là phải thừa nhận sự tồn tại của Chính phủ đó.

Rõ ràng, chính quyền Mỹ bây giờ muốn giải quyết theo các điều khoản của tháng 10. Về sau, Kít-xinh-giơ đặt câu hỏi: "Các điều thay đổi có đủ ý nghĩa để bào chữa cho nỗi thống khổ và sự cay đắng của những nấc thang cuối cùng trong cuộc chiến không? Có lẽ là không đối với  chúng ta; hầu như chắc chắn là có đối với Sài Gòn... Rõ ràng, chúng tôi nghĩ rằng Hiệp định tháng 10 là đầy đủ...".
GS-TS Ga-bri-en Kôn-cô

Bình luận

ZALO