Biên phòng - Ở huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), ông Võ Hiển Đạt thuộc thế hệ "cây đa cây đề", được nhiều người biết đến nhờ viết chữ Nho rất đẹp và những câu chuyện kể về Hoàng Sa bằng vốn kiến thức cổ.
Tìm ông chữ Nho
Đến nhà ông Võ Hiển Đạt ở thôn Tây, xã An Vĩnh nhiều lần nhưng không gặp. Lúc thì ông bận đang dự giỗ ở một tộc họ, lúc thì đang giúp gia đình viết mấy câu liễn đối, lúc thì đi họp trên huyện... Lần này cũng vậy, ông đang dự lớp tập huấn về du lịch Lý Sơn do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh tổ chức.
Ngôi nhà của ông là một không gian cổ kính. Khoảng sân rộng, ngôi nhà cổ một chái hai gian trên 150 năm tuổi. Trong nhà treo nhiều liễn đối, hoành phi bằng chữ Nho với nét chữ như rồng bay phượng múa. Năm nay, ông Đạt bước sang tuổi 81, nhưng trông vóc dáng ông vẫn còn khỏe mạnh, trí óc minh mẫn. Bằng giọng nói khoáng đạt, đậm chất Lý Sơn, ông Đạt tâm sự: "Tôi sinh ra trong một gia đình vừa chân đồng vừa chân biển, trong đó, nghề biển là chính. Gia đình tương đối khá giả, ông bà nội chỉ sinh một mình cha tôi, rồi ba mẹ tôi cũng chỉ có mỗi mình tôi. Vì vậy, tôi có điều kiện được ăn học đàng hoàng. Năm 7 tuổi, cùng với việc học chữ Quốc ngữ, tôi được gia đình cho học chữ Hán do các thầy nổi tiếng nhiều nơi dạy như thầy Huấn, thầy Châu, thầy Đằng...".
![]() |
Ông Võ Hiển Đạt khắc bài vị cho các nhà thờ lính Hoàng Sa. |
Đảo nghèo, được học chữ, nhiều khi còn quý hơn hũ vàng cất trong nhà. Sau này, khi đã yên bề gia thất, ông vẫn tiếp tục học, nghiên cứu Hán tự. Người dân trên đất đảo mỗi khi có việc gì liên quan đến lĩnh vực này đều tìm đến ông để được giúp đỡ. Bằng kiến thức Nho học, ông là người đã dịch và phát hiện ra tờ lệnh Hoàng Sa mà tộc họ Đặng ở thôn Đồng Hộ cất giữ suốt 175 năm qua. Tờ lệnh này là một bằng chứng quý giá về sự tồn tại của Hải đội Hoàng Sa trên đảo.
Kể chuyện Hoàng Sa
Khi xây dựng nhà Bảo tàng Hoàng Sa, Bắc Hải, ông được "chọn mặt gửi vàng" phục dựng lại chiếc ghe câu khơi của Đội thủy binh Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa. Chiếc ghe này đã được giới thiệu rộng rãi đến công chúng trên đất liền và tại "Tuần lễ văn hóa biển, đảo Quảng Ngãi". Chỉ vào từng bộ phận trên thuyền, ông Đạt cho biết, đây là phương tiện binh phu dùng để đi tuần thú, khai thác hải vật, đo đạc thủy trình, lập miếu, dựng bia chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam từ cuối thế kỷ XVI đến những năm 50 của thế kỷ XIX.
Theo ông Đạt, ghe câu khơi ngày đó có chiều dài từ 8-10m, rộng 2-2,2m, sâu khoảng 1m (nếu tính đến mũi ghe khoảng 1,5m). Mỗi lần xuất quân, đoàn có từ 3-5 chiếc, mỗi chiếc khoảng 7-8 người. Ghe có ưu điểm gọn, nhẹ, lướt sóng tốt, luồn lách qua mọi địa hình san hô, đá ngầm. Chiếc ghe câu mà ông phục dựng tuy nhỏ hơn, nhưng vẫn đảm bảo hàng trăm chi tiết phức tạp hệt như thuyền cổ khi xưa.
Ông bảo, để hoàn thành mô hình chiếc ghe câu và ghe bầu kịp triển lãm, ông và kíp thợ phải lao động vất vả suốt hơn 2 tháng ròng. Đó là chưa kể thời gian trước đó phải "thai nghén", huy động trí nhớ, tìm tư liệu, bản vẽ chính xác. Nhưng bù lại, ông cảm thấy vui, người lâng lâng, nhẹ nhõm khi làm được một điều gì đó cho quê hương, đất nước.
Rồi dịp Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, ông lại bận rộn với những linh vị, hình nhân thế mạng, văn tế lính Hoàng Sa... Mỗi lần trùng tu đình làng, nhà thờ hay hệ thống nhà cổ, các tộc họ thường mời ông Đạt tư vấn, giúp chạm khắc, tạc chữ "thổi hồn" cho di tích. Mỗi dịp Tết đến, xuân về, nhiều người lại đến nhà xin ông chữ để cầu mong quốc thái dân an, phúc, lộc, thọ cho gia đình mình. Lúc thư nhàn, ông còn phiên âm, dịch nghĩa hàng chục cuốn sách xưa, trong đó có cuốn "Kinh thi", tự soạn "Gia lễ tổng hợp" với liễn đối, hoành phi, tang tế, hôn lễ... Ông được người dân nơi đây vô cùng quý mến, coi ông như một pho "từ điển" sống của quê hương đảo Lý Sơn.







