Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 07:40 GMT+7

Thơ vua trên vách đá

Biên phòng - Vua Lê Thánh Tông ở nửa cuối thế kỷ 15, đã được Bác Hồ đánh giá là người “mở mang bờ cõi, đã khôn lại hiền”. Trong sự nghiệp “mở mang bờ cõi” của bậc hiền tài này, biên phòng chính là mối quan tâm hàng đầu.

 946LVL1.gif
Tác giả bên một bia đá cổ ở Chùa Tiên, TP Lạng Sơn.
Là cháu nội của vua Thái Tổ Lê Lợi, thừa hưởng cơ đồ do tổ tiên để lại, gặp lúc nước láng giềng phương Bắc tranh chấp biên giới, vào năm 1473, nhà vua đã nói với chức quan đầu triều là Thái bảo Lê Cảnh Huy rằng: “Một thước núi, một tấc sông của ta, cũng không được để mất. Ngươi phải cương quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ đi sang phương Bắc, trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di”.

Lời “dụ” này của bậc quân chủ Đại Việt triều Lê, lập tức được các sứ thần ghi vào quyển 13, tờ 2B, của bộ chính sử “Đại Việt sử ký toàn thư”.

Nhưng, cũng như vua ông Lê Thái Tổ, vua cha Lê Thái Tông không chỉ lưu giữ ý chí và hành động bảo vệ chủ quyền biên giới của mình và của cả dân tộc vào sách vở giấy tờ, mà còn dùng cả đá, và là đá trên vách núi, để bền vững “như sắt đá” mà biểu đạt tâm huyết cùng sức lực biên phòng quốc gia ở “cao như núi”, “giữa đất trời”, vào “mùa xuân, tháng Hai, năm Quang Thuận thứ chín”. Dòng chữ ấy đang còn thấy khắc ghi ở trên đầu bài thơ “Đề Truyền Đăng sơn”- tức là vào đầu năm 1468, Vua Lê Thánh Tông đã “đi tuần du An Bang đến đóng quân dưới núi Truyền Đăng, mài đá đề một bài thơ”.

Ở câu văn (dịch từ chữ Hán: “Tuần An Bang, trú sư ư Truyền Đăng sơn, ma thạch đề thi nhất luật”) bây giờ vẫn rõ chữ trên vách đá này, có địa danh “An Bang” - vốn là tên gọi cũ của miền tỉnh Quảng Ninh ngày nay. Còn, “Truyền Đăng sơn” (tức núi đặt tín hiệu lửa để báo động) thì chính là - vì có thơ “ngự chế” (do vua làm và cho khắc vào đá ở đây) nên bây giờ đang mang tên - “núi Bài thơ”, nổi tiếng ở bờ vịnh Hạ Long.

Vì sao, vào mùa xuân năm 1468, vua Lê Thánh Tông lại “đi tuần du An Bang (Quảng Ninh)” và “đến đóng quân ở dưới núi Truyền Đăng (Hạ Long)”, để “mài đá đề một bài thơ (khiến về sau thành tên “núi Bài thơ”)” ở đấy?

Xét các ghi chép trong sử cũ, thì thấy: Vào năm 1467, đã có một loạt biến cố ở miền biên giới phía Bắc đất nước ta, do nước láng giềng phương Bắc gây ra. Vua Lê Thánh Tông đã phải hai lần gửi “sắc chỉ” cho quan tướng ở các miền Lạng Sơn, Tuyên Quang, Bắc Bình (tức: Cao Bằng), An Bang (tức: Quảng Ninh) căn dặn và trách cứ:

“Người bề tôi, giữ đất đai của triều đình, chức phận là phải bảo toàn lãnh thổ, yên ủy nhân dân, bẻ gẫy những mũi nhọn tấn công, chống lại những kẻ khinh rẻ nước mình. Thế mà mới đây, người nước ngoài xâm phạm cướp bóc, trẫm không thấy các ngươi có công hiệu gì về việc đánh giặc giữ đất cả”.

Đấy là lời vua, được chép vào chính sử, ngày 20 tháng 5 (âm lịch). Đến tháng 9 (âm lịch) thì tờ “sắc chỉ” thứ hai được vua ban, lời lẽ còn cụ thể, ráo riết hơn:

“Các ngươi có chức vụ đứng đầu một phương, khống chế cả cõi biên thùy, phải phòng bị điều bất trắc, để ngăn ngừa giặc ngoại xâm. Cần phải khuyên bảo các tướng hiệu, răn đe quân lính, không được quen thói cũ, bỏ trốn về nhà, để trống vị trí phòng thủ. Kẻ nào trái lệnh thì phải trị tội nặng hơn luật thường”.

Kèm với những lời lẽ và ý chí đó, là hàng loạt công việc cùng hành động của nhà vua. Ngay từ tháng 2 (âm lịch), Lê Thánh Tông đã cho tổ chức nhiều cuộc tập trận: Ở Lỗ Giang, ở sông Vi, sông An Phú, và ở ngã ba Bạch Hạc. Nhà vua cũng cho các đơn vị quân đội làm lại các chiến khí, sửa đổi mẫu cũ sang mẫu mới. Lại hạ lệnh mở khóa thi, khảo duyệt võ nghệ, định lại lệ thưởng phạt nghiêm minh từ trên xuống dưới.

Riêng đối với miền An Bang (Quảng Ninh) là nơi chịu đến 3 lần trong năm 1467 ngoại bang sang quấy phá, nhà vua đã trực tiếp điều binh khiển tướng dẹp tan. Và sang đến mùa xuân, tháng 2 (âm lịch) năm 1468, thì thân hành, điều động đại binh (mà sử cũ chép là “sáu quân”) ra “duyệt võ trận” trên dòng sông lịch sử Bạch Đằng. Rồi đó, thấy “gió lành, cảnh đẹp, biển không còn sóng dữ - như lời “đề từ” trên đầu bài thơ “Đề Truyền Đăng sơn” viết (khắc) rõ - bè lướt thuyền trên biển, đi tuần du An Bang, đến đóng quân dưới núi Truyền Đăng, mài đá đề một bài thơ”.

Bài thơ khắc trên vách đá núi Truyền Đăng (núi Bài thơ - Hạ Long) vào mùa Xuân năm 1468 ấy, chính là tuyên ngôn về kết quả và kết thúc cuộc tập trận (“duyệt võ”) trên dòng sông “Bạch Đằng một cõi chiến tràng/ Thây phơi trắng đất, máu màng đỏ sông” - như lời sách “Đại Nam quốc sử diễn ca” đã ghi - 3 lần đánh bại quân xâm lược Nam Hán (năm 938) nhà Tống (năm 981) và Mông - Nguyên (năm 1288). Nhưng không chỉ thế, đây còn là tuyên ngôn về ý chí và hành động, cùng tác dụng lớn lao, thiết thực, và hệ trọng, của sự nghiệp biên phòng đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì, chính sự nghiệp này, là để cho, như lời kết của bài thơ 7 chữ 8 câu đã viết (khắc) rất hay:

“Thiên Nam vạn cổ Sơn hà tại.

Trời Nam muôn thuở núi sông còn”.

Chắc chắn, khi “ngự chế” những lời thơ hào sảng trên vách đá núi Truyền Đăng như thế này, vua Lê Thánh Tông đã nghĩ đến một phần hiển hách trong sự nghiệp của bậc “hoàng phụ” (vua cha): Lê Thái Tông. Vì, những ý chí của thi phẩm bất hủ từ năm 1468 của nhà vua, cả động thái cho khắc thơ lên vách đá nữa, đều mô phỏng, nhắc lại, một tác phẩm cũng đã được đem khắc lên núi cao, sau một lần ra quân biên phòng thắng lợi, tận trên miền Tây Bắc xa xôi, hiểm trở, vào năm 1440 của vua Lê Thái Tông - ở động “Thẩm Báo Ké” trên lưng chừng ngọn núi Cắm, tỉnh Sơn La, đến nay vẫn còn hiện rõ, bài thơ cũng theo thể “thất ngôn bát cú”, với niên đại “Canh Thân Đại Bảo năm thứ nhất, ngày lành giữa tháng ba” (tức: Tháng 4-1440) của Vua Lê Thái Tông và cũng lại với câu kết thơ:

“Cách trừ ô nhiễm an dân thiện

Nhẫn sử hà manh ngoại chi nhân”

(Trừ hết nhớp nhơ, dân lành vững/ Cõi xa được hưởng tấm lòng nhân)

Tuy nhiên, đặc biệt nhất, và trước tất cả, thì vẫn là bài thơ khắc trên vách đá “Mường Lễ”, xa tận đỉnh đầu miền Tây Bắc của vua Lê Thái Tổ. Ba năm sau ngày quét sạch quân xâm lược nhà Minh ra khỏi cõi bờ, và chỉ một năm nữa là qua đời, người anh hùng đất Lam Sơn, vua tổ triều Lê sơ, bậc “vua cha” của Lê Thái Tông, “vua ông” của Lê Thánh Tông, vẫn và đã là người đầu tiên, vào và từ năm 1431, dẫn quân lên biên phòng miền đầu nguồn sông Đà, làm gương cho con cháu, cả về ý chí và hành động biên phòng, lẫn việc khắc thơ biên phòng lên đá núi, với những câu thơ mãi hay, cần, và đúng, qua tất cả các thời:

“Biên phòng hảo vị trù phương lược

Xã tắc ưng tu kế cửu an”

(Muốn cho đất nước bền vững mãi/ Kế hoạch biên phòng phải liệu ngay).

Giáo sư sử học Lê Văn Lan

Bình luận

ZALO