Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 05:16 GMT+7

Quản lý, sử dụng đất sản xuất vùng đồng bào DTTS ở Gia Lai:

Thực trạng và giải pháp đồng bào DTTS ở Gia Lai

Biên phòng - Sau mỗi lần giao dịch, cầm một cục tiền lớn, nhiều gia đình đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS) thỏa sức mua sắm và… hưởng thụ. "Bia rượu chất đầy nhà, gà, vịt đầy chuồng" nên chả mấy chốc, cục tiền sạch trơn. Hết tiền, hết đất sản xuất, nhiều gia đình lâm vào cảnh điêu đứng, phải đi làm thuê đắp đổi qua ngày. Rõ ràng, việc nhà nông bán, cho thuê đất sản xuất đang tiềm ẩn những hệ lụy hết sức nguy hiểm, mà trước tiên là sức ép đói nghèo…

4w2y_10a-1.JPG
Giá tiêu tăng đột biến, một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng tình trạng bán, cho thuê đất của các hộ đồng bào DTTS. Ảnh: Dinh Xuyên
Bài 2: Những hệ lụy nguy hiểm

Trước thực trạng đồng bào DTTS bán, cho thuê đất sản xuất diễn ra phức tạp, UBND tỉnh Gia Lai cũng đã chỉ đạo các cấp, các ngành liên quan rà soát tổng hợp và tìm giải pháp tháo gỡ. Bởi, việc mất đất sản xuất đối với người nông dân đã kéo theo hàng loạt những hệ lụy, mà dễ thấy nhất, đó là tình trạng bán non nông sản như cà phê, mì (sắn), lúa... khiến cho bà con nông dân thiệt đơn, thiệt kép.

Ở xã HNol, huyện Đăk Đoa có 16 gia đình đồng bào DTTS bán cà phê non với số lượng 51 tấn và 9 hộ bán mì non với số lượng 16 tấn. Và, điều đáng nói là tất cả 25 hộ nói trên, trước đây đã từng có ít nhất một lần... bán, hoặc cho thuê đất sản xuất. Xã HNol cũng chính là địa phương đứng "tốp đầu" về tình trạng bán, cho thuê đất sản xuất của huyện Đăk Đoa, khi có tới 152 gia đình đã từ bỏ "chiếc cần câu" của mình.

Chấp nhận bán non nông sản, lấy tiền trang trải sinh hoạt trong gia đình, cũng đồng nghĩa với việc bà con phải gánh thêm một khoản lãi kéo dài cho đến kỳ thu hoạch. Anh Hi, làng Dơ Nâu, xã Kon Thụp, huyện Mang Yang cho biết, thường đầu mùa, bà con "ứng" trước 1 triệu thì đến khi thu hoạch phải trả lãi đến 600 nghìn đồng. Họ cũng phải bán sản phẩm cho chính chủ nợ là thương lái, với giá thấp hơn rất nhiều so với giá thị trường.

Như vậy, phía sau câu chuyện bán đất đã làm nảy sinh biết bao vấn đề, thậm chí có cả những bức xúc, bào mòn lòng tin của nhân dân đối với cán bộ cơ sở. Dạo trước, ở vùng Ayun Pa - một trong những vựa mía lớn nhất của tỉnh Gia Lai, hễ vào kỳ thu hoạch là y như rằng, rất nhiều hộ nông dân bức xúc vác dao vào nhà máy để "xin" lệnh chặt mía (có lệnh chặt thì mới được nhập mía vào nhà máy).

Cả một cánh đồng mía rộng lớn như thế, nhưng nhà máy chỉ cấp lệnh nhỏ giọt, mỗi lần chỉ được vài chục tấn mía cây và kéo dài từ tháng này qua tháng khác. Trong khi đó, có những người có chức, có quyền, có tiền, "dán mác" nông dân thì được nhà máy ưu ái cho thu hoạch gọn một lần cả hàng chục héc-ta.

Quá bất công, nhiều nông dân quay sang "quậy" cán bộ: "Các ông làm cán bộ đã được Nhà nước trả lương, cớ sao còn đầu cơ đất, lấn sân sang công việc của nhà nông chúng tôi để bây giờ, chúng tôi phải chịu thua thiệt như thế này?". Câu chuyện nói ra có vẻ chua chát, nhưng chung quy lại, nó được khởi nguồn từ việc mua bán đất tràn lan.

Bởi, nếu không mua bán thì làm sao một gia đình công chức không sống bằng nghề nông nghiệp lại có trong tay hàng chục, thậm chí hàng trăm héc-ta đất sản xuất. Đó là chưa kể, có cán bộ, công chức "ôm" một lần cả chục héc-ta đất (mua rẻ của đồng bào), suốt ngày phải lo chỉ đạo sản xuất, thử hỏi, còn thời gian đâu để họ lo cho công việc Nhà nước giao phó?.

Thiệt hại của nhà nông khi bán đi "chiếc cần câu" của mình là điều ai cũng có thể tiên liệu được. Những trường hợp nông dân bán, hoặc cho thuê đất sản xuất phải chịu thiệt đơn, thiệt kép, như gia đình ông Kpăh Pơ ở làng Lê Ngol, chị Ksor H'Léh ở làng Nái, xã Ia Tiêm, huyện Chư Sê không phải là chuyện hiếm gặp. Tuy nhiên, vấn đề ở đây không chỉ là thiệt hại về mặt vật chất dành riêng cho nhà nông, mà còn tạo nên một hiệu ứng tiêu cực như một vòng luẩn quẩn.

Sau những "phiên giao dịch", chắc chắn bà con nông dân vùng đồng bào DTTS sẽ thiếu đất sản xuất và sẽ lại tiếp tục vào rừng để khai hoang, phát rẫy mới, dẫn đến tình trạng phá rừng tràn lan. Hàng ngàn héc-ta rừng cứ lần lượt "bốc hơi" phần lớn là do sức ép từ việc thiếu đất sản xuất. Vấn đề này, nếu cơ quan chức năng thẳng tay ngăn chặn, xử lý hành vi chặt phá rừng làm nương rẫy thì bà con chỉ còn một cách là trông chờ vào chủ trương của Chính phủ về việc "bố trí đất sản xuất cho những gia đình đồng bào DTTS thiếu đất".

Tuy nhiên, cái điệp khúc "thiếu thì được cấp, cấp xong lại bán, bán rồi lại thiếu" sẽ không thể lặp đi, lặp lại nhiều lần vì quỹ đất không thể tự nhiên "đẻ" ra được. Đến nước này thì chính quyền cấp cơ sở cũng đành phải... bó tay.

Một lý giải khác về nguyên nhân bà con vùng đồng bào DTTS thường hay bán hoặc cho thuê đất sản xuất của gia đình mình, đó là do tư duy trông chờ ỷ lại và lười biếng lao động. Chính sách ưu tiên của Nhà nước để vực dậy đời sống của đồng bào là hết sức đúng đắn và cần thiết, song cũng cần phải nâng cao ý thức, nhận thức cho bà con để tránh bước tiếp vào "lối mòn" trông chờ ỷ lại.

Mới đây, ở xã biên giới Ia Dom, huyện Đức Cơ, qua rà soát tình hình thiếu đất của người dân trên địa bàn, lãnh đạo xã đã đề nghị sử dụng quỹ đất gần 10 héc-ta để bố trí cho bà con. Bên cạnh đó, UBND xã cũng đã đề xuất khoản kinh phí 130 triệu đồng hỗ trợ bà con mua cây giống phát triển sản xuất. Mặc dù vậy, có 3 gia đình đồng bào DTTS đã được tuyên truyền nhiều lần, nhưng vẫn không chịu nhận đất, bởi họ cho rằng chính quyền đã giúp thì phải giúp cho đến nơi, đến chốn. Một cán bộ (cũng là người đồng bào DTTS) đã phải lắc đầu ngao ngán: "Nếu gia đình nào cũng như mấy ông này, thì chính quyền cơ sở phải ba đầu sáu tay mới ôm hết việc được...".

Một hệ lụy mang tính xã hội rất cao từ việc nông dân người DTTS "chia sẻ" đất sản xuất của mình, đó là việc từ bỏ "cuộc cách mạng" thay đổi tư duy sản xuất, chuyển đổi cây trồng để quay về với cây lúa nương một vụ truyền thống. Ai cũng biết, để thực hiện được sự thay đổi này, cả hệ thống chính trị cơ sở phải tập trung vào cuộc không chỉ trong một, hai năm mà có khi kéo dài đến vài ba thập kỷ.

Chúng ta đã nói rất nhiều đến cụm từ "cầm tay chỉ việc" hướng dẫn bà con DTTS tiếp cận với các loại cây hàng hóa, cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao. Biết bao công sức, trí tuệ, tiền bạc đổ vào đấy, chạm đích rồi nhưng vẫn mong manh, dễ vỡ, kiểu như xây dựng "lâu đài cát" kiến tạo nên thì khó mà phá bỏ lại rất dễ. Bởi nếp ăn, nếp nghĩ, cách làm của bà con, nhiều nơi vẫn còn mang nặng tính tự cung, tự cấp.

Có một thực tế mà chúng ta cần phải khách quan nhìn nhận rằng, việc các gia đình đồng bào DTTS bán đi vườn tiêu, rẫy cà phê của gia đình mình thì rõ ràng, cơ hội để họ tạo dựng trở lại là rất mơ hồ và cực kỳ khó. Vấn đề ở đây không chỉ là lấy đâu ra tiền để bà con đầu tư kiến thiết lại từ đầu, mà còn là kỹ thuật, là tư duy sản xuất bị mai một, sau một thời gian quay lưng lại với nhóm cây hàng hóa.     
 
Những hiệu ứng tiêu cực trong cái vòng luẩn quẩn này do đâu mà ra? Có lẽ nó xuất phát từ việc quản lý, sử dụng đất sản xuất thiếu chặt chẽ, thiếu hợp lý đã và đang diễn ra tại rất nhiều địa phương vùng đồng bào DTTS ở Tây Nguyên nói chung, tỉnh Gia Lai nói riêng.

Bài 3: Cần siết chặt quản lý đất sản xuất

 

Cẩm Xuyên - Quốc Dinh

 

Bình luận

ZALO