Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 04:03 GMT+7

Quản lý, sử dụng đất sản xuất vùng đồng bào DTTS ở Gia Lai:

Thực trạng và giải pháp

Biên phòng - Hệ lụy của việc hàng nghìn hộ đồng bào DTTS ở Gia Lai cho thuê, bán đất rành rành trước mắt, gây sức ép rất lớn đối với chính quyền địa phương và cơ quan chức năng trong việc giải quyết chính sách, xóa đói, giảm nghèo và đặc biệt là nạn phá rừng làm nương rẫy... Chính vì vậy, cần có những giải pháp quyết liệt, ngăn chặn việc mua bán đất, từ đó mới ổn định được cuộc sống của người dân, kéo họ ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo, trông chờ ỷ lại.

erq0_10a-1.JPG
Một số hộ đồng bào DTTS biết đầu tư trồng tiêu, cho thu hoạch hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Ảnh: Cẩm Xuyên

Bài 3: Cần siết chặt quản lý đất sản xuất

Mới đây, UBND huyện Đăk Đoa đã tổ chức hội nghị bàn các biện pháp nhằm hạn chế tình trạng bán, cho thuê đất sản xuất và bán non các mặt hàng nông sản trong vùng đồng bào DTTS. Tại hội nghị, các đại biểu đã chỉ ra những nguyên nhân của tình trạng bán, cho thuê đất sản xuất và bán non các mặt hàng nông sản, đồng thời, kiến nghị các biện pháp cần thiết để giữ lại quỹ đất hiện có của các hộ gia đình đồng bào DTTS sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp.

Ông Mai Tấn Lợi, Chánh Văn phòng UBND huyện Đăk Đoa thừa nhận: Thực trạng bà con nông dân bán, cho thuê đất sản xuất trên địa bàn huyện là có thật, nhưng chưa có số liệu thống kê một cách chính xác. Thường trực Huyện ủy cũng đã chỉ đạo các xã tiến hành rà soát kỹ càng các trường hợp bán, cho thuê đất sản xuất. Huyện Đak Đoa thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành để tiến hành kiểm tra, tìm ra nguyên nhân, giải pháp cụ thể để giải quyết tình trạng này.

Hiện tại, địa phương này có 131 hộ nghèo thiếu đất sản xuất được hỗ trợ bò giống phát triển chăn nuôi theo phương thức Nhà nước hỗ trợ 5 triệu đồng, UBND huyện Đăk Đoa hỗ trợ 500 nghìn và nguồn vốn từ Ngân hàng Chính sách Xã hội cho vay 15 triệu đồng để nuôi bò sinh sản, xóa đói, giảm nghèo. Bên cạnh đó, có một số hộ gia đình được hỗ trợ 15 triệu đồng để khai hoang 5 sào đất rẫy, hoặc 3 sào ruộng nước.

Cũng theo ông Lợi, trường hợp cho thuê đất là do người dân không làm mới cho các hộ khác thuê để trồng cây tạo sản phẩm cho xã hội, tránh trường hợp bỏ hoang đất. Trường hợp bán đất thì hi hữu, vì chỉ khi bị bệnh tật, ốm đau cần tiền gấp, đồng bào mới bán rẫy. Riêng ruộng nước thì không bao giờ đồng bào bán, trừ trường hợp bị phạt vạ. Chính quyền địa phương đang đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động cho người dân hiểu, nhận thức được vai trò của việc giữ đất, có đất thì mới có thể làm ăn, thoát nghèo, làm giàu.

Để ngăn chặn tình trạng bán đất sản xuất trong đồng bào DTTS xã Ia Tiêm, huyện Chư Sê đã đưa ra giải pháp đó là khảo sát, đánh giá, nếu hộ nào ít đất thì tập trung tuyên truyền, vận động hạn chế mua bán, sang nhượng. Ông Cao Văn Truật, Chủ tịch UBND xã Ia Tiêm cho biết: "Chúng tôi vận động người dân tự chăm sóc, canh tác và thu hoạch trên phần ruộng, rẫy của gia đình.

Bởi vì trước đây, khi người dân đua nhau bán đất, địa phương đã phải hạn chế bằng cách rà soát lại thực trạng từng hộ. Nếu hộ nào còn từ 2ha đất sản xuất trở xuống là không cho sang nhượng, tránh tình trạng bán hết đất sản xuất. Trước mắt, chúng tôi sẽ cho rà soát lại toàn bộ thực trạng cho thuê đất hay vườn rẫy để tìm giải pháp can thiệp cụ thể.

Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân không nên cho thuê vườn rẫy hoặc đất mà tích cực canh tác, chăm sóc để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Cái khó nhất chính là cơ sở pháp lý để can thiệp. Bởi xét về pháp lý, người dân hoàn toàn có quyền quyết định hình thức sản xuất, kinh doanh trên phần đất của mình, trừ những việc pháp luật không cho phép...".

Từ cách làm mà 2 địa phương nói trên đang triển khai, có thể thấy rất rõ những giải pháp đưa ra nhằm tăng cường quản lý đất sản xuất trong các hộ gia đình đồng bào DTTS vẫn còn thiếu tính đồng bộ và chưa cương quyết. Chúng ta nói cấm chuyển nhượng đất sản xuất, nhưng đã có hình thức xử lý nào đối với người mua hay chưa?

Trên thực tế, sau khi mua đất của bà con DTTS (giấy viết tay), người mua sẽ còn phải qua các "công đoạn" như xác nhận của Già làng, Trưởng thôn, một số hộ gia đình có đất sản xuất liền kề... sau đó mới có thể làm hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền cấp quyền sở hữu. Mọi vấn đề đều xuất phát từ đối tượng này, nhưng chế tài xử lý không cương quyết nên chưa có tác dụng "hạ nhiệt" những "cơn sốt" mua bán, chuyển nhượng đất tràn lan như hiện nay.

Đây cũng chính là nguyên nhân làm gia tăng tình trạng đầu cơ đất sản xuất, mặc dù chủ sở hữu nó không phải là nhà nông chính hiệu. Đành rằng, mọi lời giải thích về quyền sở hữu đất, phương thức canh tác đều hợp lý và hợp pháp, nhưng nếu cơ quan chức năng vẫn cứ "nói không" với người mua thì chắc chắn bài toán nông dân thiếu đất sản xuất sẽ không có lời giải.

Từ trước đến nay, chúng ta nhắc nhiều đến câu chuyện quy hoạch vùng nguyên liệu, lựa chọn cây trồng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và khả năng canh tác, nhưng chưa hề nói đến cụm từ "quy hoạch nghề" trong sản xuất nông nghiệp nên mặc nhiên để các nhà khác "đá lấn sân" của nhà nông.

Thực hiện Quyết định số 132 và 134/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc "bố trí đất ở, đất sản xuất cho hộ đồng bào DTTS thuộc diện thiếu đất sản xuất", riêng TP Pleiku, tỉnh Gia Lai đã cấp cho 1.309 hộ gia đình đồng bào DTTS trên địa bàn 5 xã, phường là Chư Á, Biển Hồ, Tân Sơn, Hoa Lư và Thắng Lợi với tổng diện tích hơn 60ha (mỗi hộ gia đình được cấp từ 300-900m2).

Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, đến thời điểm này đã có hơn một nửa số hộ gia đình (747 hộ) sang nhượng cho người khác, mặc dù quyết định cấp đất ghi rõ sau 10 năm sử dụng mới được chuyển nhượng. Quy định thì rất chặt chẽ, nhưng tại sao lại để xảy ra thực trạng này? Đơn giản, việc sang nhượng của bà con chủ yếu "ràng buộc" với nhau bằng... giấy viết tay, rất ít trường hợp thông qua cấp chính quyền cơ sở (xã, phường) xác nhận. Đây cũng chính là thực trạng chung ở hầu hết các địa phương, việc chuyển nhượng đất sản xuất của bà con đồng bào DTTS chủ yếu là giấy viết tay và nhờ Già làng, Trưởng thôn xác nhận, người bán chỉ cần điểm chỉ là xong.

Điều này giải thích tại sao, việc đồng bào mua bán đất nóng như thế mà chính quyền cấp xã vẫn "bình chân như vại". Rõ ràng, đây là "lỗi hệ thống". Cấp thôn làng vì cả nể hay có thể là vì một lý do khác mà xác nhận vào đó rồi đưa lên xã, xã thấy không có vấn đề gì nên cũng... "gật đầu". Chính điều này đã tạo ra sự lỏng lẻo trong công tác quản lý đất sản xuất của chính quyền cấp cơ sở. Nên chăng cần có những quy định cụ thể về đối tượng được quyền xác nhận và trách nhiệm khi để xảy ra "sai số" trong mua bán, chuyển nhượng đất sản xuất.

n1fs_10b-1.JPG
Phát triển cây lúa nước góp phần ổn định đời sống đồng bào các DTTS.
Ảnh: Quốc Dinh
 
Một trong những nguyên nhân làm phát sinh tình trạng mua bán đất tràn lan ở vùng đồng bào DTTS, đó là việc các chủ nhân nơi đây rất khó tiếp cận với nguồn vốn vay từ các kênh tín dụng. Nói về thực trạng mua bán, cho thuê đất sản xuất tại địa phương mình, ông Đinh Ơng, Bí thư Đảng ủy xã Hà Bầu, huyện Đăk Đoa cho biết: "Xã Hà Bầu là điểm nóng về an ninh chính trị.

Bên cạnh hoạt động của các lực lượng FULRÔ, Tin lành Đề Ga, trước đây xã thường xuyên có người vượt biên trái phép. Tuy nhiên, về lĩnh vực kinh tế thì Hà Bầu lại là xã vùng I, đời sống bà con tương đối ổn định. Chính vì vậy, khi có nhu cầu vay vốn từ Ngân hàng Chính sách Xã hội thì chỉ hộ nghèo và hộ cận nghèo mới được tiếp cận ở mức vay không quá 30 triệu đồng. Với từng ấy vốn là chưa đủ để đầu tư cho sản xuất.

Trong khi đó, các ngân hàng thương mại thì rất khó tiếp cận nên buộc bà con phải sang nhượng bớt đất sản xuất, hoặc cho người khác thuê để lấy vốn tái đầu tư. Nếu đáp ứng được nhu cầu về vốn vay, chắc chắn sẽ hạn chế đáng kể thực trạng mua bán, cho thuê đất tràn lan như hiện nay...".

Rõ ràng, để ngăn chặn tình trạng mua bán đất sản xuất ở vùng đồng bào DTTS rất cần có sự vào cuộc một cách quyết liệt của chính quyền các cấp, các ngành hữu quan. Cùng với việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để bà con đồng bào DTTS (người bán) thay đổi nhận thức, thấy rõ vấn đề, còn cần phải có những chế tài xử lý đủ mạnh đối với người mua và cả những người xác nhận, chứng thực một cách vô trách nhiệm.

Song song với đó là sự chung tay góp sức của các ngân hàng, giải quyết nhu cầu về nguồn vốn vay cho bà con. Có như thế mới giúp người nông dân yên tâm sản xuất và thu lợi trên chính mảnh đất, của mình, tránh nguy cơ mất đất khiến cuộc sống lâm vào ngõ cụt.

Cẩm Xuyên - Quốc Dinh

Bình luận

ZALO