Biên phòng - Khi những chùm hoa sim tím biếc nở rộ trên triền đồi, cũng là lúc các em học sinh tại các bản làng vùng cao tạm biệt trường nội trú, trở về gia đình. Nhưng trong số ấy, ai sẽ đến trường vào năm học mới, ai sẽ bỏ học theo cha mẹ lên nương thì thật khó đoán định. Đường đến lớp của các em nhỏ người Mông trên rẻo cao huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái còn rất nhiều khó khăn, vất vả, buộc các em phải vượt lên chính mình để đến với chân trời tri thức phía trước.

Muôn nẻo núi rừng
Hôm nào cũng vậy, cứ tờ mờ sáng, hai con lợn ỉn trước nhà húc đầu vào cửa đòi ăn. Lúc đó, bà nội đến bên giường lay chân Giàng A Khua để gọi em dậy đi học. Trong khi Khua dụi mắt và ngáp ngắn ngáp dài trên giường, thì bà đã chuẩn bị xong cặp lồng cơm cho em mang đến trường. Nhà Khua nằm trên một sườn núi của bản Thào Chua Chải, xã Chế Cu Nha. Từ nhà đến trường là đoạn đường dài khoảng 8km, trong đó có 7km đèo dốc, chỉ 1km đường gần trường là trải bê tông.
Trên đường đi học, hôm nào Khua cũng gặp 6 bạn, trong đó có một bạn học cùng lớp 3 với Khua, còn lại đều học lớp lớn hơn. Cũng giống như Khua, tất cả các bạn đều chỉ xách theo cặp lồng cơm để ăn trưa. Bạn Chứ Thị Hù, 11 tuổi, học lớp 5, vì nhà đông em quá, bố mẹ không trông nổi nên Hù phải địu theo một em 2 tuổi đến lớp. Vậy mà Hù vẫn vừa đi, vừa nói chuyện và đùa vui cùng các bạn.
Hoàn cảnh của em Sùng Thị Mảy, học sinh trường THCS Mồ Dề cũng đầy nước mắt. Mẹ em nghe dân bản kháo nhau là bị người ta lừa bán sang Trung Quốc, còn bố thì ăn lá ngón tự tử. Mảy về sống với gia đình bác Sùng Giồng Dì từ đó. Nhà Mảy cách trường 2 cây số rưỡi nên mỗi ngày em phải đi về cả thảy 4 lượt. Không phải đi quá sớm, cũng không phải về quá khuya, nhưng trưa nào Mảy cũng phải vác cái bụng đói meo để bò về nhà. Về nhà rồi, em ăn nháo nhào cho xong bữa cơm, rồi lại lê đi với chân tay rã rời và đôi mắt lờ đờ vì buồn ngủ. Vậy nhưng Mảy vẫn đi học đều và không hề nghỉ ngơi. Có những đoạn dốc không thể chỉ đi bằng chân được, Mảy bám vào những bụi cây chắn ngang rồi bò lên như con sóc nhỏ.
Cùng trường với Mảy là Mùa A Lồng. Cậu bé có ánh mắt buồn thăm thẳm. Mẹ em mất sớm, còn bố suốt ngày uống rượu say, cứ nhìn thấy em là mắng. Rồi bố em bị bắt vì tội buôn bán ma túy. Không có bố mẹ bên cạnh, nhà bác nghèo, không có xe để đưa đón nên Lồng phải tự đi học. Sáng thứ 7 tuần nào Lồng cũng đi bộ về, rồi tối chủ nhật lại lặn lội trở lại trường. Trên con đường em đi, có những đoạn cheo leo giữa lưng chừng núi, một bên là đất đá có thể sạt lở bất cứ lúc nào, một bên là vực sâu mà chỉ cần trượt chân xuống là không thể tìm thấy đường lên. Lồng học rất chăm, suốt 8 năm học, năm nào em cũng đạt danh hiệu học sinh giỏi, được đại diện cho học sinh của huyện đi thi học sinh giỏi cấp tỉnh nhiều năm.
Tuổi thơ trên giảng đường
Trường Tiểu học Chế Cu Nha được xây dựng ngay bên cạnh tuyến đường huyết mạch đi đến trung tâm huyện Mù Cang Chải. Trường có ba dãy lớp học được xây hai tầng kiên cố và khoảng sân trường thoáng mát, đây là một trong số ít trường “chuẩn” của huyện. Lớp 3A mà Giàng A Khua đang theo học cũng phải thực hiện mô hình mới này. Xung quanh những bộ bàn ghế ọp ẹp, các em học sinh chủ yếu là người dân tộc Mông, không gồng lên hay nhoài ra như thầy hiệu trưởng nói mà đang học theo bài giảng của cô giáo. Sau khi cô giảng bài thì từng nhóm phải thảo luận với nhau để đưa ra kết quả. Nhóm nào không đưa ra được kết quả thì giơ tấm biển cứu trợ để cô giáo đến giảng thêm.
Ngôn ngữ chính là rào cản lớn nhất và khó khăn nhất đối với các em học sinh dân tộc để tiếp nhận được bài giảng. Các thầy cô dưới xuôi lên đây dạy học trước hết phải “xóa mù tiếng dân tộc” cho mình, rồi sau đó mới giảng bài cho học sinh được . Ở những lớp tiểu học thì đa số giáo viên phải dạy học bằng tiếng dân tộc, đến lớp cao hơn thì kết hợp cả hai thứ tiếng – tiếng phổ thông và tiếng dân tộc. Tiếng phổ thông nói ở đây cũng phải chọn những từ đơn giản, dễ hiểu, bởi vì học sinh chỉ hào hứng tiếp thu bài khi các em biết cô giáo đang giảng cái gì.
Cho học sinh nghỉ hè, nhưng thầy Nguyễn Văn Hiên, Hiệu trưởng trường Tiểu học Chế Cu Nha không khỏi băn khoăn: “Nghỉ hè, nhiều em theo người nhà đi làm thuê ở xa nên năm học mới, thầy cô không thể nào tìm được. Có em thấy thầy cô đến nhà liền trốn biệt vào rừng, gọi thế nào cũng không chịu về. Mấy năm trước còn có trường hợp một nhóm thanh niên tự dưng xông vào trường, lôi một em học sinh nữ lớp 5 ra khỏi lớp. Chúng tôi định ngăn lại thì được biết họ đang... bắt vợ. Mà tục bắt vợ của người Mông cấm những người ngoài tham gia nên chúng tôi đành chịu…”.
Ngoài lý do đi làm, phải lập gia đình thì còn một lý do khiến nhiều em nghỉ học đó là con đường đến lớp quá gập ghềnh, xa xôi. Hôm nào các em cũng phải dậy từ sáng sớm để đi học. 15 giờ 30 phút kết thúc buổi học, nhưng phải tối muộn các em mới về đến nhà. Cũng vì đi về mất quá nhiều thời gian, công sức nên việc ra bài tập về nhà cho học sinh là điều không tưởng. Sách vở, dụng cụ học tập do nhà trường cung cấp và cũng để lại trường luôn.
Không được học trường chuẩn như các bạn ở Chế Cu Nha, nhưng học sinh trường THCS Mồ Dề có phần đỡ vất vả hơn vì được ăn ở bán trú tại trường. Tuy nhiên, với tổng số 650 học sinh của cả ba cấp: Mẫu giáo, tiểu học và trung học cơ sở, không phải em nào cũng được hưởng chế độ bán trú. Học sinh mẫu giáo được ăn bữa trưa, nhưng tối đến thì phụ huynh phải đón về nhà ngủ. Học sinh tiểu học và trung học cơ sở được ăn ngủ tại trường từ thứ 2 đến thứ 6, nhưng tiêu chuẩn này chỉ dành cho những em nhà xa từ 3km trở lên.
Được đủ tiêu chuẩn ở nội trú là mong muốn của hầu hết học sinh trường THCS Mồ Dề. Có nhà thậm chí còn chuyển đi xa trường cho đủ 3km để con không phải đi bộ về nhà ngày 4 lượt. Thế nhưng, ăn ở tại trường đối với học sinh cũng đâu sung sướng. Chi phí bán trú cho một học sinh chỉ là 12.000đồng/ngày, khi mà giá cả sinh hoạt ngày một tăng cao và thực phẩm ở Mù Cang Chải lại luôn đắt đỏ hơn những nơi khác vì vận chuyển khó khăn. Cũng vì quá ít tiền nên trường không thể thuê thêm một người về nấu ăn cho học sinh. Mỗi ngày, các thầy cô lại phải thay phiên nhau đi chợ, rồi vừa dạy xong lại cùng nhau bắt tay vào việc nấu nướng cho cả trăm con người. Các giáo viên của trường hôm nào cũng phải đau đầu tính toán xem bữa nay có bao nhiêu học sinh ăn cơm, giá các loại thực phẩm ngoài chợ tăng giảm thế nào?
Giờ đây, những người lớn ở Mù Cang Chải cũng đã hiểu rằng, nếu không đi học thì không thể biết tiếng phổ thông, không biết mua bán khi đi chợ, không nghe được đài, xem ti vi nên đã cho con trẻ đi học nhiều hơn, nhưng việc chăm chút cho sự học ấy vẫn còn hời hợt, đơn giản như trước. Nhưng những em nhỏ mà tôi đã gặp, thì đang cháy bỏng trong lòng ước mơ được đến trường, dù con đường ấy còn gian nan, nghiệt ngã.
Việt Trung – Tuệ Lâm







