Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 05:21 GMT+7

Ngành gỗ Việt Nam:

Tiềm năng và thách thức

Biên phòng - Hiện nay, Việt Nam có khoảng 642 nông, lâm trường được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, chiếm 90% tổng diện tích đất đang sử dụng. Nhưng liên tục trong 10 năm qua (từ 2004 đến 2014) hiệu quả kinh tế từ ngành trồng rừng, khai thác, chế biến gỗ và các loại lâm sản đã bộc lộ sự bất tương xứng với nguồn lực. Theo đó, tổng nộp ngân sách Nhà nước của các nông, lâm trường chỉ được hơn 1.800 tỷ đồng. 

pd5z_10b-1.jpg
Trồng rừng gắn với giảm nghèo bền vững là chủ trương chung ở nhiều địa phương hiện nay. Ảnh: Lệ Loan
 
Nghịch lý ngành gỗ

"Ngành lâm nghiệp nước ta trong thời gian qua đã chuyển động mạnh theo chương trình tái cơ cấu, có sự phát triển đáng ghi nhận, giá trị tăng trưởng lâm nghiệp trong 5 năm qua tăng rất cao, trong khi ngành nông nghiệp chung lại gặp nhiều khó khăn về tăng trưởng. Năm 2011 tăng trưởng 3,4%, 2012 tăng trưởng 4,6%, 2013 tăng 5,9%, 2014 tăng trưởng 7% và năm nay đạt ngưỡng trên 7%" - ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhận định.

Theo ông Hà Công Tuấn, ngành lâm nghiệp đang phát triển rất bền vững. Năm 1990, độ che phủ rừng của Việt Nam chỉ có 27,8%, đến hết năm 2014, độ che phủ đã đạt được 40,43%. Là một nước còn rất nghèo, nhưng Việt Nam có độ tăng trưởng về rừng, kể cả bảo vệ rừng, độ che phủ rừng tăng lên, diện tích rừng cũng như năng suất, sản lượng rừng trồng tăng rất cao.

Trong giai đoạn 2004-2014, các nông, lâm trường được Nhà nước giao quản lý diện tích đất đai khá lớn với gần 8.000.000 héc-ta, trong đó, có hơn 2.400.000 héc-ta rừng sản xuất, gần 639.000 héc-ta đất sản xuất nông nghiệp và hơn 237.000 héc-ta đất chưa sử dụng. Tuy nhiên, tình trạng sử dụng đất kém hiệu quả, giao khoán sử dụng sai mục đích, sai đối tượng dẫn đến thất thoát, lãng phí tài nguyên đất còn khá phổ biến. Hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, năng suất sản lượng trồng trọt còn thấp.

Theo số liệu thống kê, tổng khối lượng gỗ khai thác của nước ta năm 2015 đạt 31 triệu mét khối, trong đó, có hơn 17,5 triệu mét khối khai thác từ rừng trồng, 6 triệu mét khối từ nguồn cây phân tán, 2 triệu mét khối từ rừng cao su thanh lý, 1,94 triệu mét khối từ rừng tự nhiên chuyển đổi.

Trong khi đó, ngành gỗ được xác định là một trong những ngành chủ lực của nước ta. Giá trị xuất khẩu ngành chế biến gỗ đến quý II năm 2015 đạt 6,3 tỷ USD, dự kiến đạt 7 tỷ USD vào năm 2015 và 10 tỷ USD vào năm 2020. Cùng với đó là chế biến, xuất khẩu nguyên liệu thô từ khai thác trồng rừng. Kim ngạch gỗ dăm năm 2014 là 985 triệu USD với khoảng 6,97 triệu tấn. Tuy nhiên, vấn đề bất cập ở đây là trong khi chúng ta xuất khẩu gỗ dăm thì ngành gỗ nước ta lại phải nhập khẩu khoảng 60-77% nguyên liệu để sản xuất và chế biến.

Ông Nguyễn Đức Thanh, Tổng Giám đốc Nhà máy sản xuất gỗ An Hòa (xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang) cho rằng: Với sản lượng gỗ hiện nay khai thác khoảng 70 khối gỗ/héc-ta, một ngày, nhà máy của ông tiêu hết khoảng 1.700 khối, tức khoảng 20 héc-ta. Tại vùng nguyên liệu ở Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái… ông đã đầu tư 14 ngàn tỷ đồng để xây dựng nhà máy giấy, bột giấy và giấy An Hòa.

Ông Thanh cho rằng, về tái cơ cấu phát triển rừng cần tạo cơ chế để doanh nghiệp tư nhân được chi phối trong vấn đề đầu tư thì họ mới tham gia. Theo ông Thanh, nếu chuyển tiền cho các công ty lâm nghiệp hoạt động thì sẽ không hiệu quả, do vậy, doanh nghiệp tư nhân như ông phải chiếm trên 51%.

"Tôi cũng đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng với chính quyền các địa phương giải quyết cho chúng tôi vấn đề này, vì chúng tôi đã đầu tư nhà máy rồi, và nếu không có vùng nguyên liệu này, sẽ rất ảnh hưởng rất lớn đến phần sản xuất và chế biến. Về phía doanh nghiệp, chúng tôi cũng cam kết sẽ đầu tư vào rừng và phát triển vùng lâm nghiệp" - ông Thanh nói.

Phân tích thêm về giống gỗ của chúng ta hiện nay, ông Thanh cho rằng, thời hạn thu hoạch của nó rất dài, chẳng hạn lai một chu kỳ của cây keo mất khoảng 6 năm, vì vậy, ông đề nghị các Viện khoa học Lâm nghiệp nghiên cứu để cung cấp loại giống cho phù hợp với vùng nguyên liệu ở phía Tây Bắc.

Ông Thanh còn cho biết, hiện nay nhà máy của ông cũng đang vướng về dăm gỗ xuất khẩu. Nhiều lần ông đề nghị Bộ Công thương nên ưu tiên cung cấp phần nguyên liệu cho doanh nghiệp trong nước đã đầu tư nhà máy sản xuất chế biến. Ông Thanh cho biết, ở Tuyên Quang hiện nay, một ngày nếu nhà máy ông không mua đủ 1.700 khối gỗ thì nhà máy sẽ đóng cửa. Tuy nhiên, có tình trạng rất nhiều doanh nghiệp tranh mua các loại dăm, gỗ ván xẻ, đây cũng là vấn đề ảnh hưởng việc sản xuất của những doanh nghiệp như ông.

Chú trọng phát triển giá trị thường niên của rừng

Theo ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch Hội đồng quản trị (HĐQT) Công ty cổ phần Scansia Pacific (huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai), bất cập hiện nay là chưa gắn kết được giữa trồng rừng nguyên liệu với khu vực chế biến gỗ nên vừa xuất khẩu ván dăm - một dạng xuất khẩu thô, giá trị thấp và phải nhập khẩu gỗ nguyên liệu để doanh nghiệp chế biến sản phẩm gỗ nội ngoại thất xuất khẩu.

Ông Thắng phân tích: Hiện nay, giá trị thường niên của rừng trồng trong nước từ 25 đến 40 mét khối/héc-ta/năm, có vùng trồng lên đến 46 mét khối/héc-ta. Điều này cũng không có vấn đề gì, như Tập đoàn giấy Origami paper của Nhật, họ trồng rừng với mật độ 1.600 cây/héc-ta, tuy nhiên, chỉ số giá trị thường niên rừng trồng của họ chỉ có khoảng 15-18 mét khối/héc-ta. Trong 4 năm đầu tiên, chúng ta có sản lượng gấp đôi, nhưng sau năm thứ 4, rừng sẽ không sinh trưởng nữa, cây cứ nhỏ như vậy và điều này chỉ phù hợp với việc trồng rừng 4 năm, khai thác và trồng lại.

Về sinh thái thì lại không ổn, nếu trồng trên đất lâm nghiệp và trồng loại cây chỉ 4 năm khai thác, thì thời gian này, chúng ta phải bỏ hoang đất 1 năm, năm đầu tiên sinh khối chưa có, rễ cũng chưa giữ nước được, như vậy tác dụng giữ nước của rừng trồng, tác dụng đầu nguồn không đạt được như rừng trồng khác.

Về mặt sinh quyển, cứ 4 năm, chúng ta phóng thích lượng các-bon-níc rất lớn vào môi trường, do vậy, nếu trồng rừng mà chỉ tính tới chỉ số phát triển thường niên về mặt sinh khối, không tính về mặt giá trị là không phù hợp với trồng rừng kinh tế. Do vậy, thay vì trồng dày trong 4 năm đầu để thu hoạch khiến gỗ nhỏ và làm ván dăm xuất khẩu, giá trị thấp, nên chú ý đến việc phát triển giá trị thường niên của rừng.

Để giải quyết bất cập này, ông Nguyễn Chiến Thắng cho biết, Công ty đã ký hợp đồng với người trồng rừng 4 tỉnh miền Trung như: Thừa Thiên Huế, Quảng Trị… Theo đó, năm thứ 4 chỉ tỉa thưa, sau đó nếu bị mưa bão, đường kính vẫn còn 13cm/cây, công ty sẽ tiêu thụ hết với giá thị trường. Và Công ty cam kết bao tiêu hết, nếu gỗ có chứng chỉ rừng FSC (Hội đồng quản trị rừng quốc tế) sẽ mua cao hơn 25% so với gỗ chưa có FSC.

Để giúp nông dân, từ năm thứ 5, hộ dân nào cần vốn, công ty cho vay 4 triệu đồng/héc-ta/năm với lãi suất ngân hàng và giảm 2%. Tất cả số tiền đó chỉ trả khi bán gỗ cho Công ty. Nông dân đã ký hợp đồng với gần 1.000 héc-ta và tỉnh Quảng Trị đã cam kết sẽ có thêm ít nhất 1.000 héc-ta được ký theo phương thức này vào năm 2016. Đây là mô hình đột phá, cần nhân rộng, giúp xã hội hóa việc trồng rừng và liên kết người trồng với doanh nghiệp, có như vậy, việc trồng rừng và chế biến gỗ mới phát triển bền vững.

Nước ta khi hội nhập sâu vào nền kinh tế có các Hiệp định thương mại như: TPP, FTA thì việc xuất khẩu các mặt hàng gỗ và nguyên liệu gỗ đòi hỏi phải đáp ứng được quy định của các chứng chỉ, công ước quốc tế, chất lượng, kích cỡ, tuổi gỗ cũng như nguồn gốc khai thác. Vì vậy, phải xây dựng chuỗi lâm nghiệp, xây dựng vùng nguyên liệu liên kết. Bởi có chú trọng phát triển gỗ mới kéo theo sự phát triển của các ngành phụ trợ khác và phải xem ngành gỗ là ngành chủ lực, đây là ngành rất thuận lợi để phát triển kinh tế đất nước.
Lệ Loan

Bình luận

ZALO