Biên phòng - Trong chuyến công tác miền Tây Nam Bộ cuối năm ngoái bằng chiếc xe Jeep của BĐBP Kiên Giang, Thượng sĩ Nguyễn Văn Thọ, lái xe đã bật đĩa CD những ca khúc mang âm hưởng Nam Bộ trong suốt cả hành trình. Trong số ấy, bài hát “Con kênh xanh xanh” của nhạc sĩ Ngô Huỳnh vốn đã rất quen thuộc với mọi người bỗng trở nên rộn ràng, tươi mới hơn, khi chúng tôi được nhìn ngắm những dòng kênh xanh ngát và cảm nhận giai điệu ấm áp, chan hòa tình quân dân, tình yêu đôi lứa. Khi nghe đến câu hát: “Chiến khu bừng vui ấm bao lòng dân quê tôi/ Tiếng ai giã bàng nhịp nhàng như tiếng lòng tôi...”, tôi mới rụt rè đem điều mà tôi thắc mắc bấy nay ra hỏi Thọ xem giã bàng để làm gì và tại sao phải giã?
![]() |
| Thu hái cỏ bàng ở đồng cỏ Phú Mỹ, Kiên Lương. |
Thọ cười hiền khô: “Có chi đâu chị, bàng ở đây đâu phải là cây bàng trồng để lấy bóng mát mà là cây cỏ bàng, dùng để đan các loại nệm, chiếu, giỏ xách giống như cây cói ngoài Bắc vậy. Ông Ngô Huỳnh viết vậy là bởi hồi đó, người dân sau khi cắt cỏ bàng về, họ phải giã giập bằng chày tay cho cỏ tơi ra rồi phơi khô trước khi đan. Hồi nhỏ, tôi có xem người ta giã bàng rồi, thường giã vào ban đêm hen chị. Chuyến này đã vô Kiên Giang, chị đi một chuyến tới Kiên Lương, coi đồng cỏ bàng Phú Mỹ và xem bà con làm nghề bàng cho biết, chị ha”.
Tìm hiểu mới biết, cây cỏ bàng hiện diện trong tâm thức và sinh hoạt của người dân Nam Bộ hàng trăm năm nay. Sách “Gia Định thành thông chí” thế kỷ 18 cũng đã nhắc đến loại cỏ này với tên Hán là không tâm bồ. Còn ca dao thì có câu “Bông xanh mà lá cũng xanh/ Em đi cấy lúa cho anh nhổ bàng”. Hay “Trắng da vì bởi mẹ cưng/ Đen da vì bởi lội bưng nhổ bàng”. Đối với bà con nông dân ở những vùng ngập nước nhiễm phèn như Kiên Lương (Kiên Giang) hay Tân Phước (Tiền Giang) thì những đồng cỏ bàng tưởng như hoang dại ấy lại đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của nhân dân trong vùng. Sống giữa một vùng đất phèn mặn, đồng bào nơi đây đã kiên nhẫn biến cỏ bàng thành hàng hóa với các sản phẩm sinh hoạt và mỹ nghệ mang lại nguồn thu nhập đáng kể. Những chiếc đệm trải, nón hay túi xách tuy không đẹp mã như dệt bằng cói lác, nhưng với lối sống dân giã thì lại khá phù hợp.
Dẫu đã từng đến thăm vùng Đồng Tháp Mười mùa lũ, nhưng đồng cỏ bàng ở Phú Mỹ, Vĩnh Điều vẫn cho tôi những ấn tượng thật đặc biệt. Một vùng ngập nước nguyên thủy còn sót lại của vùng đồng bằng sông Cửu Long với đặc trưng là nhiễm phèn nặng, giàu hữu cơ, mở ra những trảng bàng xanh thăm thẳm, hút tầm mắt càng khiến cho buổi sáng ở biên giới phía Tây Nam trở nên rộng ngợp.
Thảng lại có những đàn sếu tấp xuống rồi mất hút trong sóng cỏ cao lút đầu người. Chỉ nghe thấy tiếng chim líu ríu đâu đó theo gió đưa lại. Được biết, đây là kết quả mà “Dự án bảo tồn, khai thác bền vững đồng cỏ bàng Phú Mỹ” rộng 2.800ha đem lại. Từ đồng cỏ này, những người dân biên giới đầu nguồn lũ không chỉ biến một vùng đất hoang hóa, đầm lầy thành nơi “cỏ vàng” để xóa nghèo bền vững và làm giàu ngay trên mảnh đất quê mình, mà còn tạo một bến đậu an toàn, thân thiện cho những đàn sếu đầu đỏ đang nằm trong Sách Đỏ của thế giới về trú ngụ.
Thiếu tá Danh Kim Houl, đưa chúng tôi vào thăm cơ sở đan đệm bàng của chị Thạch Thị Danh, ở ấp Kinh Mới, xã Phú Mỹ. Cơ sở có hơn 20 phụ nữ đang lặng lẽ đan giỏ xách và một nhóm khác ít hơn thì chằm nón. Họ hầu hết đều là người dân tộc Khmer. Chị Danh cho biết, trước đây, nghề đan đệm bàng chỉ tồn tại như một thứ công việc làm thêm của người phụ nữ địa phương vào thời điểm nông nhàn.
Từ ngày vùng nguyên liệu được bảo tồn và mở rộng, đã có hơn 1.000 lao động ở các xã biên giới Vĩnh Điều, Phú Lợi, Tân Khánh Hòa có việc làm từ nghề thủ công truyền thống này. Thu nhập của thợ lành nghề dao động từ 1,5 đến 3 triệu đồng mỗi tháng. Ước tính đến nay đã có gần 1.000 mẫu sản phẩm làm từ cỏ bàng xuất khẩu sang các thị trường như Nhật, Ý, Đức, Mỹ, Ô-xtrây-li-a, Ca-na-đa, Thụy sĩ, Chi-lê... Các sản phẩm từ bàng vẫn được bày bán khá phổ biến tại đồng bằng sông Cửu Long và xuất sang Campuchia. Riêng với mặt hàng nón bàng thì rất được thị trường Trung Đông ưa chuộng.
![]() |
| Những sản phẩm được dệt từ cây cỏ bàng. Ảnh: TL |
Bên cạnh đó, những người không có tay nghề cũng được hưởng lợi từ những công việc như thu hái cỏ bàng nguyên liệu, sơ chế thuê cho các cơ sở hoặc mang sản phẩm đi bán tại các thôn ấp, chợ đầu mối.
Nhiều gia đình sống trong khu vực đồng cỏ bàng đã bắt đầu quay lại trồng loại cây này. Đưa chúng tôi ra ruộng bàng rộng trên 1,5ha đang phát triển, che kín mặt ruộng, bác Thạch Tkeo, ở ấp Khánh Hòa, xã Tân Khánh Hòa khẳng định rằng, thu nhập từ việc trồng cỏ bàng của gia đình bác hiện nay cao hơn so với trồng lúa ở vùng đất phèn này. “Thường chúng tôi cấy bàng vào tháng 11 âm lịch. Hai tháng sau thì làm cỏ, rải phân và phun thuốc diệt sâu ống để bàng phát triển. Khi cây bàng đã che kín mặt ruộng thì không cần phải chăm sóc nữa.
Việc trồng bàng cho hiệu quả mà lại không mất nhiều công sức, tiền bạc để đầu tư”. Hai người con của bác trước đây thường đi gánh hàng thuê qua biên giới thì bây giờ, bản thân họ cũng đã trở thành những bà chủ nhỏ chuyên cung cấp sợi bàng thô và thành phẩm cho người dân biên giới bên nước bạn.
Theo người dân địa phương, trước kia, giã bàng bằng sức người, mỗi người đứng trên một neo bàng và dùng chày giã xuống đều đều từ lúc 3, 4 giờ sáng. Đây là công đoạn nặng nhọc nhất nên người ta thường giã sớm để tránh nắng nóng ban ngày. Giờ thì bàng được ép dẹp bằng hai trục thép được kéo bằng máy dầu. Sau khi phơi khô, người dân bán cho những người mua về đan nên nghề cũng vì thế mà đỡ cực.
Chị Dương Thị Nhụn, một trong những người chuyên bán sợi bàng khoe rằng, mỗi neo (bó) bàng chị cũng thu được khá tiền, đủ giúp “qua” nuôi sắp nhỏ và bố nó ốm bệnh. Các chị em khác trong ấp thường cất lại sợi của chị để đem về nhà đan thêm những lúc rảnh rỗi.
Công việc của những chị em theo nghề bàng khá nhẹ nhàng nhưng đòi hỏi đôi tay thật khéo. Do làm thủ công nên các múi đan có hoa văn rất tinh xảo, nhiều sáng tạo và mang dáng vẻ mộc mạc, đậm chất “quê”. Có cảm giác sự tận tâm với nghề cùng ý chí thay đổi cuộc sống đã tiếp sức cho chị em đẩy mạnh hơn nữa hoạt động truyền dạy nghề, nâng cao giá trị sản phẩm và để đồng cỏ bàng phát huy được giá trị vốn có của nó.
Chị Thạch Thị Nờ, Tổ đan đệm Khánh Hòa chân thành: “Đan đệm bàng là nghề cha mẹ truyền lại, tôi cố gắng giữ nghề truyền thống này, vừa có thêm thu nhập, vừa phấn đấu để nghề bàng trở thành một dấu ấn văn hóa ở đất vùng biên Giang Thành này”.
Tâm trạng của chị Nờ cũng là suy nghĩ chung của những người phụ nữ sống ở vùng cỏ bàng. Đến Kiên Lương vào bất cứ lúc nào, người ta cũng sẽ thấy dọc hai bên đường vào phum sóc, những trảng cỏ bàng xanh đang phơi nắng và những thanh nữ Khmer da hun mật, thoăn thoắt đôi tay dẻo theo mỗi mũi đan. Và một màu xanh được điểm xuyết bằng những chiếc nón bàng trắng của người đi nhổ cỏ, từng đàn sếu đầu đỏ thư thái lượn bay sẽ chảy tràn trước mắt bạn là những hình ảnh chỉ có thể bắt gặp ở đồng cỏ bàng Phú Mỹ, sẽ là một nét đẹp khó phai trong kí ức những ai từng đến với nơi này.









