Biên phòng - Truyện Kiều - "Khúc Nam âm tuyệt xướng" của Nguyễn Du, từ ngày ra đời đến nay, đã làm đắm say hàng triệu con tim với những câu thơ tuyệt đẹp, thấm đẫm tâm hồn Việt. Truyện Kiều là đỉnh cao của văn học Việt Nam và là nơi kết tinh, thăng hoa vẻ đẹp hồn thơ Nguyễn Du. Cũng từ tác phẩm Truyện Kiều, tại kỳ họp thứ 37 ngày 25-10-2013, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã ra Nghị quyết 37C/15 nhất trí biểu quyết vinh danh Nguyễn Du (1765-1820) là "Danh nhân văn hóa thế giới" và sẽ cùng với nhân dân Việt Nam kỷ niệm 250 năm ngày sinh của ông trong năm 2015.
![]() |
| Tượng đài Đại thi hào Nguyễn Du tại Khu di tích lưu niệm Nguyễn Du (xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh). Ảnh: Hoài Thương |
Nhìn lại thời điểm trước khi xuất hiện Truyện Kiều, Hán ngữ được coi là ngôn ngữ chính thống trong nhiều hoạt động văn hóa, xã hội của nước ta thì mới thấy hết giá trị sáng tạo của Nguyễn Du. Công lao này của ông được các học giả phương Tây đánh giá ngang tầm với sự vĩ đại của các học giả châu Âu dám vượt qua rào cản ngôn ngữ tiếng La-tinh để đưa tiếng mẹ đẻ của họ trở thành ngôn ngữ văn học chính thống.
Vinh danh Nguyễn Du là vinh danh tinh thần sáng tạo của một nhà thơ lớn từ câu chuyện kể bằng văn xuôi theo lối chương hồi của nhà văn Trung Quốc, đem dàn dựng kết cấu lại, tạo ra một cốt truyện mới cân đối, mạch lạc. Câu chuyện được kể lại bằng một mô hình trần thuật văn học sáng tạo, hài hòa giữa ba loại hình ngôn ngữ: Kể chuyện bằng lời thơ của tác giả, tự sự trữ tình bằng lời độc thoại nội tâm của nhân vật và ngôn ngữ của cảnh sắc thiên nhiên trong không gian và thời gian hiện thực. Điều này làm cho cảm xúc của người đọc, người nghe được nhân lên gấp bội, lan tỏa không giới hạn, vượt qua cõi hữu thức vào tận cõi vô thức.
Vẫn giữ nguyên nội dung, giữ nguyên tên đất, tên người, không gian, thời gian câu chuyện, song Nguyễn Du đã thay đổi hồn cốt, hóa thân những nhân vật trong tiểu thuyết Trung Quốc thành những con người như đang sống thật đâu đó quanh ta. Nguyễn Du đã xây dựng thành công cả một hệ thống nhân vật sống động, gắn kết, mang những ưu tư, phiền muộn, khổ đau cũng như những khát vọng sống của những con người thật giữa cuộc đời, giữa cõi nhân gian này. Các nhân vật có tên họ, quê quán cụ thể, có gương mặt riêng, số phận riêng, đồng thời cũng là sự kết tinh tiêu biểu những tính cách có giá trị vĩnh cửu trong xã hội.
Ngay thời hiện đại, chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy đâu đó một nàng Kiều xinh đẹp khao khát tình yêu và hạnh phúc, những tên Sở Khanh, những kỹ viện, lầu xanh trá hình dưới những nhà hàng, nhà nghỉ, những vũ trường với đủ loại Tú Bà, Mã Giám Sinh. Cũng dễ dàng tìm thấy đâu đây những tham quan" hễ thấy hơi đồng là mê", những ô lại chỉ lo "vét cho đầy túi tham". Thế mới thấy Truyện Kiều có sức lan tỏa, phổ cập rộng rãi trong triệu triệu người Việt Nam và có sức sống bền vững hàng trăm năm.
Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đưa tinh hoa văn học dân gian và thể tài dân tộc lên đỉnh cao rực rỡ chưa từng thấy. Thơ lục bát bắt nguồn từ ca dao trong các truyện Nôm trước đây thường đơn điệu, tẻ nhạt, ít có những tác phẩm xuất sắc. Bằng ngòi bút của mình, Nguyễn Du đã khắc họa, tạo hình, tạo nhạc, thay đổi khuôn hình nhịp và vần làm cho nó trở nên phong phú, muôn điệu muôn vẻ, thiên biến vạn hóa. Cấu trúc thơ thay đổi theo cấu trúc tình huống, nhịp câu thơ cũng là nhịp độ của thời gian vũ trụ và thời gian tâm lý.
Cùng với thể thơ lục bát là vẻ đẹp của ngôn ngữ, vẻ đẹp của tiếng Việt. Đại thi hào Nguyễn Du đã đưa ca dao, tục ngữ, thành ngữ ẩn chứa truyền thống đạo lý dân tộc vào thơ. Ngôn ngữ Hán, thơ Hán, điển cố, điển tích Hán qua thơ ông cũng được chuyển tải bằng thơ thuần Nôm hoặc hóa thành ca dao, tục ngữ. Hai ngôn ngữ dân gian và ngôn ngữ chính trị hòa quyện với nhau tạo thành một ngôn ngữ thuần Việt kỳ diệu trong Truyện Kiều, vừa giàu biểu cảm lại giàu biểu ý, đậm đà bản sắc tâm hồn người Việt.
Truyện Kiều được viết ra với 3.254 câu thơ lục bát với 22.778 chữ. Câu, chữ nào cũng được gọt dũa tỉ mỉ từng ly từng tý, đổi một câu, một chữ cũng khó, thay một từ cũng không dễ. Có những chữ rất thường tình, khô khan ví như những từ chỉ con số hay những hư từ tưởng chừng như đã mòn vẹt đi trong đời sống vào tay bậc thầy tiếng Việt Nguyễn Du bỗng trở nên linh hoạt với các biến thái tu từ đầy ý nghĩa. Các câu chữ dùng trong Truyện Kiều không có câu nào là sáo, mà đều mới tinh, đầy sáng tạo.
Thế hệ hôm nay tự hào được thừa hưởng kho tàng tiếng Việt của cha ông đã có cội nguồn từ 4.000 năm trước, đặc biệt là vốn liếng tiếng Việt đỉnh cao của Đại thi hào Nguyễn Du kết tinh trong Truyện Kiều. Truyện Kiều Nguyễn Du viết cho mọi nhà, cho mọi người, mọi thời đại. Bất cứ người Việt Nam nào cũng thuộc ít nhiều câu lục bát, thậm chí thuộc nhiều chương, đoạn Kiều. Truyện Kiều đã đi vào mọi sinh hoạt văn hóa, xã hội của đất nước, được trích dạy trong nhà trường, lên sân khấu nghệ thuật, bước vào điện ảnh, trở thành đề tài của các bản hợp xướng và ca khúc âm nhạc... Cho đến hôm nay, người Việt Nam vẫn lẩy Kiều và bói Kiều.
Trên thế giới, Truyện Kiều đã được dịch ra trên 30 thứ tiếng và được đưa vào giảng dạy ở một số trường đại học ở Pháp, Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc... Nhiều tạp chí danh tiếng của Pháp, Nga, Mỹ, Cu-ba, Cộng hòa Séc... cũng đã đăng tải nhiều bài viết nghiên cứu về Truyện Kiều.
Sự kiện có chính khách Mỹ dùng những câu Kiều trong buổi đàm đạo với lãnh đạo nước ta đã chứng minh được giá trị bất hủ của Truyện Kiều cũng như tầm ảnh hưởng của Truyện Kiều tới văn hóa thế giới. 13 năm trước, trong chuyến thăm Việt Nam, Tổng thống Mỹ Bin Clin-tơn đã lẩy Kiều: "Sen tàn cúc lại nở hoa/ Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân" trước khi có những lời phát biểu trang trọng: "Những ký ức băng giá về quá khứ bắt đầu tan. Những phác thảo của một tương lai ấm áp chung đã bắt đầu hình thành...".
Và mới đây, trong chuyến thăm Mỹ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Phó Tổng thống Mỹ Giô Bai-đơn đã lẩy 2 câu Kiều: "Trời còn có buổi hôm nay/ Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời" để nói về quan hệ Việt - Mỹ hiện nay. Thật là kỳ diệu, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã tham gia vào ngoại giao của thời đại.
Truyện Kiều quả là rất hiện đại trong khuôn hình cổ điển. Rất cổ điển mà vẫn có sức vượt thời gian để đến với con người hiện nay. Đó chính là nhờ sự sáng tạo nghệ thuật vượt bậc của thiên tài văn học Nguyễn Du với "con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ đến ngàn đời…". Hướng tới kỷ niệm 250 năm ngày sinh của Nguyễn Du, một lần nữa chúng ta có dịp khẳng định lại những giá trị trường tồn mà nhà thơ đã để lại cho hậu thế, khẳng định sự vĩnh cửu của một con người, một Đại thi hào dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới.







