Biên phòng - Tại buổi tọa đàm "Môi trường Biển Đông - Ứng xử của con người" do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng tổ chức ngày 8-8, các học giả trong và ngoài nước tiếp tục bày tỏ quan ngại và chỉ trích những hành động ngang ngược của Trung Quốc ở Biển Đông. Trong bối cảnh Trung Quốc liên tục đẩy mạnh các hoạt động lấn biển, tạo đảo trái phép, các nhà khoa học quan ngại sâu sắc về sự xuống cấp nghiêm trọng của môi trường biển và những đe dọa về an ninh, an toàn hàng hải và hàng không trên Biển Đông do Trung Quốc gây ra.
![]() |
| Tàu thuyền khai thác hải sản ven đảo Cù Lao Chàm. Ảnh: Chu Mạnh Trinh |
Rạn san hô và thảm cỏ biển được nhận định là những hệ sinh thái có giá trị cao, hỗ trợ cuộc sống của hàng trăm triệu cư dân ven biển, từ đánh bắt thủy hải sản, du lịch, phòng hộ ven biển, thăm dò khảo sát và các dịch vụ khác. Từ thời cổ xưa cho tới nay, toàn bộ khu vực Đông Nam Á đã phụ thuộc rất nhiều vào các hệ sinh thái biển nông này. Ước tính khu vực Biển Đông có khoảng 300 triệu người hàng ngày sinh sống phụ thuộc vào nguồn lợi của biển. Tuy nhiên, những hoạt động san lấp các rạn san hô, xây đảo nhân tạo của Trung Quốc đang đe dọa nghiêm trọng đến nguồn sống, sinh kế của hàng triệu người.
GS.TS Ét-ga-đô Đ.Gô-mê, Viện Khoa học Biển, Đại học Phi-líp-pin, thẳng thắn chỉ ra rằng: "Trong lúc gấp rút giành lấy sự kiểm soát một hệ sinh thái lớn trên Biển Đông, Chính phủ và quân đội Trung Quốc có vẻ như rất ít hoặc không hề quan tâm tới sự thật rằng, những rạn san hô, thảm cỏ biển và những hệ sinh thái biển nông đang bị phá hủy và chôn vùi một cách nhanh chóng. Các nước khác không hoàn toàn vô tội nhưng số lượng không đáng kể so với Trung Quốc".
Đến cuối tháng 5-2015, Trung Quốc đã san lấp (khai phá) hơn 800ha các rạn san hô, thảm cỏ biển và các hệ sinh thái biển, đồng thời đã nạo vét hoặc phá hủy một phần nhỏ hơn, khoảng chừng 200ha. "Mức định giá tốt nhất hiện có cho các hệ sinh thái tự nhiên và những dịch vụ sinh thái mà chúng cung cấp, mỗi héc-ta rạn san hô có giá trị 350 nghìn đô-la Mỹ một năm, như vậy, tính tới thời điểm này, các quốc gia ven Biển Đông đã chịu thiệt hại lên tới 280 triệu đô-la một năm" - GS.TS Gô-mê nhận định.
Theo GS.TS Gô-mê, trong lịch sử, việc san lấp biển quy mô nhỏ đã được thực hiện bởi một số quốc gia để nới rộng các đảo, phục vụ cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng dân sinh, nhất là Ma-lai-xi-a và Phi-líp-pin. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp này, việc xây dựng là để hỗ trợ những nhu cầu kinh tế dân sự cho đánh cá và du lịch. Quy mô của chúng không đáng kể so với khối lượng đất đảo đang tồn tại hiện nay.
GS.TS Gô-mê lo ngại nhất là "việc vùi lấp biển quy mô lớn của Trung Quốc lên các bãi cạn san hô và rạn san hô vòng vẫn tiếp tục cho đến tháng 6-2015. Nếu cộng tất cả các hệ sinh thái bị phá hủy, tổng cộng có thể vượt quá 1.000ha. Việc này đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nước Việt Nam, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và cả chính Trung Quốc" - Ông nói.
Nghiêm trọng hơn, các hành vi của Trung Quốc không chỉ làm thay đổi cấu trúc rạn san hô, bãi rạn, thảm cỏ biển ở vùng biển quần đảo Trường Sa, mà nó còn cắt đứt mối kết nối giữa quần đảo này với các vùng của Biển Đông. Do đó, những hoạt động tàn phá môi trường ở Biển Đông sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế của nhiều quốc gia trong khu vực.
Đe dọa an toàn, an ninh hàng hải
Xét về khía cạnh địa chính trị, Biển Đông được ví như một "Ngã ba đường" của thế giới với tuyến hàng hải quốc tế quan trọng nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, hàng ngày có khoảng 300 tàu, trong đó có 200 tàu chở dầu đi qua vùng biển này. Khu vực biển này chứa đựng các lợi ích đan xen giữa các quốc gia trong và ngoài khu vực Biển Đông, đặc biệt là các quyền tự do hàng hải và tự do hàng không trên Biển Đông theo quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982).
Theo UNCLOS 1982, các quốc gia có trách nhiệm hợp tác với nhau trong việc thông qua các biện pháp để quản lý và bảo tồn các tài nguyên sinh vật biển. Các quốc gia phải ngăn chặn và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, không làm hủy hoại môi trường sinh thái và phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra do sự vi phạm nghĩa vụ quốc tế của mình để kiềm chế những sự ô nhiễm môi trường. Đối với các tranh chấp phát sinh, các quốc gia là thành viên của Công ước phải giải quyết bằng phương pháp thương lượng hòa bình trên cơ sở hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau và áp dụng Công ước.
Trong trường hợp không thương lượng được thì phải trình lên Tòa án quốc tế về Luật Biển, trình lên Tòa án Công lý quốc tế hoặc trọng tài để giải quyết. Cũng theo UNCLOS 1982, việc xác định chủ quyền của một quốc gia đối với các đảo, quần đảo trên vùng biển cần phải dựa trên nhiều căn cứ xác đáng và có cơ sở vững chắc, trong đó có các yếu tố quan trọng là: Địa mạo, địa chất và lịch sử chiếm hữu một cách hòa bình, lâu đời, liên tục và lâu dài đối với các đảo, quần đảo.
Trên cơ sở viện dẫn những quy định trong UNCLOS 1982, TS. Thuyền trưởng Nguyễn Mạnh Cường, trường Đại học Hàng hải Việt Nam khẳng định: "Từ những căn cứ pháp lý được phân tích trên có thể thấy, yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc chiếm khoảng 80% diện tích Biển Đông (gồm cả quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam) dù đã viện dẫn một số tài liệu nhưng đều không có đủ cơ sở về khoa học và chứng cứ lịch sử xác đáng. Xét theo các quy định của UNCLOS 1982 thì các yêu sách này lại càng không có cơ sở. Hành động của Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và một số đảo, bãi đá ngầm trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam, lấn biển, tạo đảo nhân tạo tại các bãi đá ngầm, xây dựng các công trình trên các bãi đá này, đã vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982, gây tổn hại nghiêm trọng, lâu dài đến môi trường sinh thái tự nhiên của Biển Đông".
Ông Cường cho biết thêm: Về mặt hàng hải, các bãi đá này đều nằm gần tuyến đường vận tải nhộn nhịp mà tàu thuyền quốc tế thường xuyên phải đi qua Biển Đông. Trung Quốc đã và đang thực hiện hàng loạt những hoạt động phi pháp trên vùng biển và các bãi đá mà họ không có chủ quyền như: Ngăn cản quyền tự do nghiên cứu khoa học, quyền đánh bắt cá hợp pháp của Việt Nam và các nước khác bằng việc ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trên khu vực; sử dụng tàu thuyền của mình xua đuổi, chủ động đâm va với tàu cá của Việt Nam cũng như các nước khác gây nguy hiểm cho an toàn trên biển.
Họ còn đơn phương kiểm soát, truy hỏi một cách phi pháp tàu thuyền và máy bay hoạt động trong khu vực, hạ đặt giàn khoan trái phép vào sâu trong thềm lục địa của Việt Nam; ngang nhiên tiến hành tập trận trên Biển Đông. Những hành động này đã và đang làm gia tăng mối nguy hiểm, trực tiếp đe dọa đến hòa bình, ổn định trong khu vực, xâm phạm đến quyền tự do hàng hải và hàng không đã được quy định rất rõ trong UNCLOS 1982 mà Trung Quốc cũng là một thành viên.
"Trong mối quan hệ quốc tế đa dạng và toàn cầu hóa như hiện nay, mọi quốc gia cần tự nguyên tuân theo các nguyên tắc cơ bản của Luật Biển quốc tế, cần phải lấy các nguyên tắc này làm nền tảng cho mọi mối quan hệ quốc tế. Một nước lớn và là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc như Trung Quốc cần phải tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế" - Ông Cường nhấn mạnh.







