Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 08:31 GMT+7

Tổ quốc nhìn từ nơi địa đầu cực Bắc

Biên phòng - Cột cờ quốc gia Lũng Cú nằm trên đỉnh Long Sơn, ở tọa độ 23 độ, 21 phút 49 giây vĩ Bắc, 105 độ 18 phút 58 giây kinh Đông, điểm cực Bắc nơi tiền tiêu của Tổ quốc thân yêu, thuộc xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Đã từ lâu, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng ngạo nghễ tung bay trên bầu trời Lũng Cú lộng gió đã trở thành một biểu tượng thiêng liêng về chủ quyền quốc gia trong lòng mỗi người dân đất Việt.

52n1_10a
Du khách chụp ảnh lưu niệm tại cột cờ Lũng Cú.

Từ điểm cao 1.468,73 mét, dưới lá cờ vinh quang của Tổ quốc, trong hoàng hôn của buổi chiều hôm gió lộng, hướng tầm mắt ra bốn phía bao la trập trùng non xanh nước biếc, chúng ta không khỏi trào dâng những cảm xúc đầy yêu thương và tự hào về chốn hùng thiêng sông núi của nơi biên ải "tột Bắc" vốn được mệnh danh là nóc nhà của nước Việt yêu thương. Đến với đỉnh cao của cột cờ Lũng Cú, chúng ta trải qua một hành trình quanh co trên những cung đường ngoạn mục, như lời của người dân cao nguyên đá "thấy nhau trong tầm mắt, gặp nhau mất nửa ngày", xe đi trên những đèo mây, toàn đá và đá. Đá nhấp nhô. Đá điệp trùng. Đá chen chúc, xô lấn. Những mỏm đá tai mèo nối đuôi nhau trải dài ra tít tắp, tới tận chân trời như hàng ngàn con sóng đang nô đùa, xô, vỗ bờ mây. Cũng có chỗ, màu xám của đá xen lẫn mướt màu của những tầng tầng, lớp lớp bắp lay, chạy dài nối tiếp như những bậc thang vắt lên đỉnh núi phía xa xa, tạo nên một bức tranh non nước tuyệt vời. Những sắc màu thắm đượm ấy hòa trong vi vu gió núi, trong tiếng khèn ngân nga, lúc bổng lúc trầm, lúc réo rắt, lúc dập dồn. Tiếng khèn khi vút lên cao như thể chạy theo con gió để vờn mây, khi trải ra mênh mang như kẻ bộ hành đang thả hồn phiêu lãng và có khi lại trầm xuống như những con xoáy nước hút sâu vào vực đá... Cảnh sắc và âm thanh của cao nguyên đá đưa ta từ ngỡ ngàng đến đắm say, mê mẩn. Cứ thế, lên cao... bỗng đột ngột hiện ra, sừng sững một cột cờ cao vời vợi với lá cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới trong buổi chiều hôm. Cột cờ Lũng Cú - cột cờ của chủ quyền quốc gia - cột cờ của niềm tự hào, kiêu hãnh.

Cột cờ Lũng Cú đã tồn tại và trải qua ngót một ngàn năm lịch sử. Cột cờ đánh dấu chủ quyền này xuất hiện đầu tiên vào thời nhà Lý. Theo truyền thuyết, Thái úy Lý Thường Kiệt là người đầu tiên thượng cờ và tổ chức hội quân trấn ải biên thùy tại địa danh này để khẳng định chủ quyền đất nước trước ý định xâm lược của quan quân nhà Tống. Rồi đến thời nhà Lê, sau khi đánh đuổi giặc Minh, Lê Lợi đã cho lập một trạm gác và treo một cái trống to trên núi để quan sát và truyền tin về sự an nguy của chủ quyền quốc gia nơi biên thùy. Đến thời Tây Sơn, sau khi đại phá quân Thanh tại Thăng Long, quét sạch hai chín vạn quân xâm lược ra khỏi bờ cõi nước Nam, Hoàng đế áo vải Quang Trung tiếp tục cho đặt một chiếc trống to, mỗi một canh, nhà vua lại cho gióng lên ba hồi đĩnh đạc, khoan thai ở chính nơi biên cương hiểm trở này để khẳng định chủ quyền quốc gia, đồng thời cũng nhắc nhở, răn đe, cảnh báo quân xâm lược về tiếng trống trận của nghĩa quân Tây Sơn. Kể từ đó, đến nay, trải qua những thăng trầm của lịch sử, lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc không ngừng được tung bay trên mảnh đất hình chóp nón anh dũng và kiên cường của cực Bắc thân yêu này.

Cột cờ Lũng Cú trước đây được làm bằng một thân sa mu thẳng tắp, cao hơn 10 mét, trên có treo một lá cờ có chiều dài  9 mét, chiều rộng 6 mét, tổng diện tích lá cờ là 54 mét vuông, mỗi mét vuông tượng trưng cho một dân tộc trên đất Việt. Cột cờ này cũng đã được trùng tu, sửa chữa nhiều lần và được Nhà nước xếp loại Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 2009. Cột cờ hiện nay chính thức được khởi dựng từ ngày 8-3-2010 và đến ngày 25-9-2010 đã hoàn thành, đi vào phục vụ khách trong nước và quốc tế đến tham quan, du lịch. Tính bắt đầu từ nhà nghỉ Cực Bắc lên đến đỉnh cột cờ có 839 bậc, chiều cao của cột cờ là 34,85 mét, cán cờ cao 14,25 mét, đường kính ngoài của cột cờ là 3,82 mét, thân cột cờ dày 40 cm. Toàn bộ cột cờ được làm bằng bê tông cốt thép theo hình bát giác, mô phỏng theo cột cờ Hà Nội.

Cột cờ Lũng Cú được trang trí bằng các bức phù điêu mặt trống đồng Đông Sơn, đường kính khoảng 1,5 mét và 8 bức điêu khắc có chiều cao 3,4 mét, trên rộng 2 mét, dưới rộng 4 mét. Điểm độc đáo của 8 bức điêu khắc này là chạm khắc miêu tả sinh động tiến trình lịch sử và đời sống văn hóa của dân tộc Việt Nam. Mặt thứ nhất là truyền thuyết núi rồng và sự hình thành di tích; mặt thứ hai miêu tả truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước; mặt thứ ba tái hiện lại đất nước với những chặng đường lịch sử; mặt thứ tư thể hiện tinh thần đoàn kết với chủ đề toàn dân làm theo lời Bác; mặt thứ năm diễn tả cảnh đất nước trên con đường phát triển; mặt thứ sáu phô diễn cảnh sông núi Hà Giang hùng vĩ, diễm lệ; mặt thứ bảy khắc họa những niềm vui của cuộc sống mới; mặt thứ tám khơi gợi hình ảnh của một Hà Giang trên con đường đổi mới và phát triển.

Đến với Lũng Cú, khách phương xa hẳn sẽ tự hỏi: Lũng Cú nghĩa là gì? Cái tên ấy cũng ẩn chứa bao điều thú vị. Hiện nay, Lũng Cú có ba cách giải thích khác nhau, cách nào cũng thấy đúng, cũng thấy đẹp, cũng thấy toát lên một niềm tin yêu xứ sở. Có người thì bảo, Lũng Cú có nghĩa là thung lũng ngô. Cách giải thích này bắt nguồn từ cách triết tự tiếng Mông, lũng có nghĩa là ngô. Đúng vậy, bao quanh chân núi cột cờ là những cánh đồng ngô xanh mươn mướt rộng lớn mênh mang. Lối triết tự này giản dị, thô mộc có vẻ gần gũi với cuộc sống sơn dã của con người nơi đây. Bên cạnh lối giải thích triết tự theo tiếng Mông thì cũng có cách giải thích mang đậm màu sắc huyền thoại: Lũng Cú nghĩa là Long Cư - nơi rồng ở. Người dân nơi đây bảo rằng, xưa kia, vùng đất này luôn thiếu nước, người dân sống rất khổ. Vì vậy, trước khi về trời, rồng thiêng đã động lòng trắc ẩn, để lại đôi mắt của mình, tạo thành hai cái giếng nước trong mát không bao giờ cạn cho dân trong vùng sử dụng.

Cách giải thích này cũng rất phù hợp với cảnh vật địa mạo. Đứng từ trên đỉnh cao nhất của cột cờ, chúng ta dễ dàng nhìn thấy hai cái hồ nước long lanh phản chiếu ánh mặt trời xuống núi một cách kỳ thú, trải dài trên thửa ruộng bậc thang, đắm say lòng người. Ngoài ra, còn có cách lý giải khác nữa, triết tự theo tiếng Hán. Lũng Cú đọc chệch tiếng Hán sang tiếng Mông là Long Cổ. Cổ là trống, Long Cổ là trống của nhà vua. Thời nhà Lý và thời nhà Lê, Lý Thường Kiệt và Lê Lợi đã từng cho treo trên núi một cái trống to để đánh trống truyền tin mỗi khi vùng biên ải cực Bắc này có vấn đề an nguy. Nghe ra, cách lý giải nào cũng có nghĩa cả; mỗi triết tự, mọi người cũng đều trào dâng cảm xúc thiêng liêng đối với mỏm "tột Bắc" yêu quý này. Và giờ đây, ta chỉ gọi bằng hai tiếng thân thương: Lũng Cú. 

Đến với cột cờ Lũng Cú, từ đỉnh cao muôn trùng thả hồn vào hùng thiêng sông núi, ta lại thấy văng vẳng đâu đây hồn cha ông hiện về trong lời nhắn nhủ của nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Phải giữ cho được từng tấc đất mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta. Ta cũng cảm thấy nhà thơ Vũ Duy Thông có lý khi bảo rằng: Là người Việt Nam, nếu chưa một lần được đứng trên đỉnh Lũng Cú để ngắm lá cờ của Tổ quốc, kể ra vẫn thiếu thiếu cái gì đó. Có lẽ, cái thiếu ấy không hẳn là sự kỳ thú của non sông gấm vóc, mà còn là để thấy rõ hơn cái bản lĩnh hiên ngang, bất khuất, kiên cường của đất mẹ yêu thương nơi tuyến đầu Tổ quốc.

Giang Hiền Sơn

Bình luận

ZALO