Biên phòng - Sáng 11-11, tại tỉnh Kon Tum, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ phối hợp với VTV Đà Nẵng tổ chức tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Hỗ trợ di dân - định canh định cư”. Cuộc tọa đàm đề cập những kết quả thực hiện các chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư, những vướng mắc, khó khăn và giải pháp tháo gỡ, những bài học kinh nghiệm đã được đúc kết trong quá trình thực hiện các chính sách này cần được phổ biến, nhân rộng. Báo Biên phòng xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung buổi tọa đàm.
![]() |
| Toàn cảnh buổi tọa đàm trực tuyến |
Các vị khách mời tham gia chương trình: Ông Trịnh Công Khanh, Vụ trưởng Vụ Chính sách dân tộc, Ủy ban Dân tộc; ông Phạm Khánh Ly, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, Bộ NNPTNT; ông Nguyễn Hữu Hải, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Kon Tum;Đại tá Tạ Nhân, Phó Chủ nhiệm chính trị, Bộ Tư lệnh Quân khu V.
Chương trình được tổ chức tại Kon Tum, địa phương vùng Tây Nguyên có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số gần 53%, cũng là địa bàn mà tình trạng di dân tự do từng diễn ra khá phức tạp. Chương trình được truyền hình trực tuyến trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ; truyền hình trực tiếp trên VTV Đà Nẵng, kênh VTC1, truyền hình Kon Tum và các đài truyền hình trong khu vực.
![]() |
Ông Trịnh Công Khanh |
Ông Trịnh Công Khanh: Trước hết, phải nói cụ thể hơn về một số chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước với đồng bào di cư tự do. Di dân là một hiện tượng không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới, như từ nông thôn ra thành thị, từ nước nghèo ra nước giàu. Thứ hai, du canh du cư là một phương thức sản xuất từ lâu đời của một nhóm đồng bào dân tộc thiểu số trong điều kiện nhất định, nhằm tái tạo độ phì nhiêu cho đất mà không cần phân bón.
Vấn đề mà ta đang đề cập chủ yếu liên quan đến hiện tượng đồng bào di cư từ các tỉnh miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên, trong những năm qua có thể nói diễn biến phức tạp, ngày càng đông hơn và gây ra một số vấn đề.
Cụ thể, năm 1976, dân số Tây Nguyên là 1,2 triệu người với 14 dân tộc, nay là 5,3 triệu người và 47 dân tộc. Từ năm 1996 đến nay dân di cư tự do chừng 50 nghìn hộ, là con số rất lớn.
Các nhóm di cư đông nhất là Mông, Dao, Tày, Thái, đông nhất đến từ Điện Biên, Hà Giang, Cao Bằng… Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng này, nhưng đời sống quá khó khăn là nguyên nhân chính, từ thiếu đất sản xuất, đất đai chất lượng kém, việc đi lại khó khăn, sản xuất hàng hóa khó khăn…
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách đầu tư, hỗ trợ đồng bào di cư tự do. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 193/2006/QĐ-TTg ngày 24/08/2006 phê duyệt Chương trình bố trí dân cư các vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới hải đảo, di cư tự do, xung yếu và rất xung yếu của rừng phòng hộ, khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến 2015. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg ngày 5/3/2007 về “Chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2007-2010” và Quyết định số 1342/QĐ-TTg ngày 25/8/2009 Phê duyệt Kế hoạch định canh định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số du canh, du cư đến năm 2012.
BTV: Thưa ông Nguyễn Hữu Hải, Ủy viên Ban thường vụ, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Kon Tum, tình hình di dân trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện ra sao?
![]() |
Ông Nguyễn Hữu Hải |
BTV: Làm nhiệm vụ bảo đảm AN-QP trên địa bàn Tây Nguyên, xin hỏi đồng chí Đại tá Tạ Nhân, Phó Chủ nhiệm chính trị, Bộ Tư lệnh QK5 hiện tình trạng di dân tự do tại khu vực này hiện nay như thế nào? Có ảnh hưởng tiêu cực gì đến an ninh chính trị và trật tự xã hội trong khu vực?
Đại tá Tạ Nhân: Như chúng ta đã biết sau giải phóng, cùng với phát triển cơ cấu kinh tế, đã diễn ra "làn sóng di cư" từ phía Bắc vào Tây Nguyên.
Năm 1999, đồng bào dân tộc phía Bắc di cư vào là 190.000 người/năm, đến nay đã là 400.000 người/năm. Trong đó, di cư một số dân tộc, đặc biệt là đồng bào dân tộc Mông gia tăng nhanh chóng. Thực tế này đã làm phát sinh một số vấn đề như mua bán đất, phá rừng để làm nương rẫy, buôn bán trái phép lâm sản, săn bắn thú rừng…
![]() |
Đại tá Tạ Nhân |
BTV: Thưa ông Khanh, Chính phủ đã ban hành những chính sách và chương trình cụ thể như thế nào để hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ định canh định cư thưa ông? Thế còn đối với nhân dân thuộc các dự án di dân phát triển kinh tế mới thì sao, Nhà nước có những hỗ trợ gì không, thưa ông?
Ông Trịnh Công Khanh: Như tôi đã nói, ngoài Quyết định 193, năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 33. Những nội dung chính gồm rà soát đối tượng di dân tự do, du canh du cư, lập dự án, trên cơ sở đó Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1342. Quyết định 1342 gồm một số nội dung chính, thứ nhất là lập quy hoạch các điểm định canh, định cư tập trung (thôn, bản) có đủ các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu, phù hợp với quy hoạch chung. Thứ hai, hộ gia đình thì có hỗ trợ về đất, làm nhà, hỗ trợ lương thực trong vòng 1, 2 năm. Thứ ba, sau khi định canh định cư thì thực hiện tất cả chính sách như với đồng bào tại chỗ.
BTV: Thưa ông Nguyễn Hữu Hải, tỉnh Kon Tum có bao nhiêu khu kinh tế mới theo các chương trình do Nhà Nước triển khai trước đây? Những hộ dân này hiện nay đã ổn định cuộc sống chưa thưa ông?
![]() |
Ông Phạm Khánh Ly |
BTV: Câu hỏi của khán giả về trường hợp 38 hộ dân từ huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đi xây dựng quê hương mới tại thôn Ngọc Tiền, xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, đến nay đã 18 năm, nhưng vẫn chưa được ngành chức năng và chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở.
Ông Nguyễn Hữu Hải: Trong giai đoạn 1994-1997, tỉnh Kon Tum đã đón nhận các hộ dân vào các thôn Ngọc Tiền, Ngọc Hải, Ngọc Cư, và khi các hộ dân vào thì trong đề án một hộ dân được 7.000m2 đất nông nghiệp và 400m2 đất thổ cư. Năm 1997, chính quyền đã tiến hành đo đạc để cấp sổ đỏ cho người dân, tuy nhiên, người dân chưa quan tâm đến vấn đề này và kê khai luôn vào đất nông nghiệp và chính quyền địa phương cũng không quan tâm nên các hộ dân có tổng cộng 7.400m2 đất nông nghiệp. Bây giờ người dân phát hiện ra là muốn xây dựng trên đất thổ cư thì phải có giấy phép, và muốn chuyển thì phải đóng tiền thuế đất, nhưng bản chất vấn đề là người dân đã có 400m2 đất thổ cư nhưng chúng ta làm chưa trúng thì sẽ phải làm cho trúng, và tỉnh sẽ làm không chỉ đối với các hộ dân Tiền Hải mà cả những hộ dân khác nữa.
BTV: Thưa ông Phạm Khánh Ly, so với các địa bàn khác như các tỉnh miền núi phía Bắc và Nam Bộ thì công tác định canh cư ở Tây Nguyên có những điểm đặc thù gì, thưa ông?
Ông Phạm Khánh Ly: Trước hết chúng ta phải hiểu khái niệm định canh định cư. Định canh định cư theo Quyết định 140 của Bộ NNPTNT là vấn đề ổn định chỗ ở, phát triển bền vững sản xuất. Khái niệm này được áp dụng với mọi vùng.
Về đặc điểm riêng của Tây Nguyên, vùng có diện tích 5,5 triệu ha, mật độ dân số 92 người/km2, trong khi Tây Bắc có diện tích 564 ngàn ha, mật độ dân số 620 người/km2, còn Nam Bộ có trên 613 ngàn ha, mật độ trên 2.000/km2.
Do điều kiện khác nhau, nên dẫn sự điều chỉnh, dẫn đến di dân có tổ chức kế hoạch từ năm 2004 về trước. Đặc biệt, do Tây Nguyên với mật độ dân số còn thấp, lại có điều kiện phát triển cây công nghiệp tốt hơn vùng núi phía Bắc và các tỉnh Tây Nam Bộ. Do đó, dân di cư vào Tây Nguyên nhiều.
Như thực tế mà chúng tôi đã đi kiểm tra, có những nơi ở Tuy Đức, Đắk Nông, điều kiện rất tốt, nhưng có 500 hộ đến cùng lúc, cuối cùng chúng tôi phải trình Chính phủ phê duyệt ngay một dự án trị giá 50 tỷ đồng cho đồng bào ổn định cuộc sống. Cho đến nay, đây là một trong những dự án tương đối hiệu quả.
BTV: Ngoài QĐ 33 và QĐ 1342 chỉ đề cập đến đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số còn du canh du cư, thế còn nhân dân ở ven sườn đồi vách núi có nguy cơ sạt lở cao thì sao, thưa ông Phạm Khánh Ly?
Ông Phạm Khánh Ly: Quyết định 193 bao gồm 4 hợp phần, một là bố trí ổn định dân cư cho các vùng thiên tai và đặc biệt khó khăn; thứ hai là vùng biên giới hải đải, thứ 3 là di dân tự do, thứ 4 là cho vùng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Dự án này bao trùm toàn bộ, trong khi Quyết định 33 và 1342 có tính đặc thù và chuyên sâu. Cả 3 quyết định này đều nhằm ổn định sắp xếp dân cư, nhưng Quyết định 33 có phạm vi hẹp hơn.
BTV: Khán giả đặt câu hỏi vì sao hàng chục hộ dân ở một số thôn bản của xã Ngọk Tem, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum sống trong khu vực có nguy cơ sạt lở trong mùa mùa mưa bão nhiều năm nay nhưng vẫn chưa được di dời?
Ông Nguyễn Hữu Hải: Triển khai Quyết định 193 trong thời gian qua tỉnh đã làm khá tốt, tuy nhiên, kinh phí hỗ trợ hàng năm của Chính phủ không đáp ứng nhu cầu. Riêng Quyết định 193 triển khai trên địa bàn Kon Tum thì tổng vốn Trung ương cấp cho tỉnh để thực hiện các dự án là 159 tỷ đồng nhưng hiện chỉ bố trí được 69 tỷ đồng, và khi nguồn lực không đủ thì không thể triển khai được.
BTV: Một trong những nguyên nhân khiến các dự án tái định canh, định cư chậm triển khai là do thiếu vốn, xin ông Trịnh Công Khanh cho biết quy trình cấp phát vốn cho các dự án này như thế nào?
Ông Trịnh Công Khanh: Sau Quyết định 33 thì Quyết định 1342 phê duyệt dự án với tổng vốn 2.317 tỷ đồng, tuy nhiên, năm 2012, khi sơ kết 5 năm thực hiện tái định canh định cư đối với đồng bào dân tộc thì chúng ta mới bố trí 1.200 tỷ đồng.
Nguyên nhân thứ nhất trong những năm vừa qua Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chương trình chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số nhưng ngân sách chưa dồi dào. Thứ hai cùng một chính sách nhưng do nhiều cơ quan quản lý, như về chính sách thì hội đồng dân tộc quản lý nhưng về vốn thì hai bộ quản lý là Bộ Kế hoạch và Đầu tư bố trí vốn đầu tư phát triển, Bộ Tài chính bố trí vốn sự nghiệp.
Kinh phí đã thiếu, sự phối hợp lại không hài hòa giữa các cơ quan, cân đối bố trí vốn. Ví dụ như tỉnh Kon Tum thiếu kinh phí vốn đầu tư phát triển để triển khai các dự án nhưng lại không được sử dụng vốn sự nghiệp. Vì vậy, tôi cho rằng cần có sự cân đối giữa vốn đầu tư phát triển và vốn sự nghiệp.
BTV: Độc giả Nguyễn Văn Hải hỏi: Hiện Chính phủ còn hỗ trợ cho các hộ dân định cư đến Tây Nguyên không?
Ông Phạm Khánh Ly: Về chủ trương chung, Nhà nước luôn muốn ổn định di dân. Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành rất nhiều chính sách hỗ trợ đồng bào di cư tự do. Việc di cư tự do gây ra nhiều hậu quả, nên Nhà nước không khuyến khích, nhưng khi đồng bào di cư thì Nhà nước sẽ có hỗ trợ.
BTV: Có ý kiến cho rằng, do nguồn kinh phí từng năm có hạn, Trung ương cấp vốn để địa phương chủ động bố trí hoàn thành dứt điểm từng dự án nhưng địa phương lại đầu tư dàn trải, thiếu tập trung dẫn đến số dự án định canh định cư dở dang. Ông Phạm Khánh Ly có suy nghĩ gì về vấn đề này?
Ông Phạm Khánh Ly: Khi trình Thủ tướng Chính phủ, chúng tôi xây dựng 2 hình thức định canh định cư là tập trung và xen ghép. Tập trung là xây dựng các điểm dân từ 30 – 60 hộ, xen ghép tức hỗ trợ một thôn, xã tiếp nhận từng hộ riêng rẽ.
Chúng tôi khuyết khích địa phương tiến hành hình thức xen ghép trước, nhưng nhiều địa phương muốn xây dựng dự án tập trung lớn trong điều kiện đất đai có hạn. Cùng với đó, theo chỉ đạo của Trung ương, trong khi ngân sách hạn hẹp thì nên tiến hành dứt điểm nhưng nhiều địa phương lại thực hiện dàn trải, khiến dự án kéo dài, số hộ định canh định cư mới chỉ đạt 5.000 trên tổng số 19.000 hộ theo kế hoạch.
BTV: Tại Kon Tum hiện có bao nhiêu khu vực nguy hiểm cần được di dời nhưng chưa thực hiện được do thiếu kinh phí thưa ông Nguyễn Hữu Hải?
Ông Nguyễn Hữu Hải: Trên địa bàn toàn tỉnh có 21 cụm cần tổ chức định canh định cư, cơ sỏ hạ tầng chưa có gì, tuy nhiên, nguồn vốn triển khai dự án khi cấp về đã ít, lại không cân đối đồng bộ. Khi muốn định canh định cư thì cơ sở hạ tầng có đảm bảo mới đưa dân đến, nếu không xong thì khó đưa dân đến được và ngược lại nếu cơ sở hạ tầng đảm bảo nhưng thiếu vốn sự nghiệp thì cũng rất khó khăn.
Đối với Kon Tum, hiện chúng tôi triển khai theo từng dự án một, nên không có chuyện đầu tư dàn trải, và nếu quyết tâm làm thì tập trung vốn đồng bộ để dứt điểm từng dự án một, chứ không phải bố trí vốn cho 3 dự án lại rải ra 8 dự án.
Ông Trịnh Công Khanh: Trước thực trạng đầu tư dàn trải thì từ năm 2002 Hội đồng Dân tộc đã thống nhất với Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã thực hiện bố trí kinh phí định canh, định cư đến từng dự án để tránh dàn trải.
BTV: Việc định canh định cư liên quan rất lớn đến công tác quy hoạch, không chỉ ở từng địa phương mà ở cấp vùng. Chúng ta có xây dựng những dự án định canh định cư với quy hoạch tổng thể quy mô cấp vùng hay không thưa ông Phạm Khánh Ly?
Ông Phạm Khánh Ly: Về công tác quy hoạch tổng thể, hiện đã có 57 tỉnh, thành phố rà soát xong, chúng tôi đã trình Thủ tướng Chính phủ và dự kiến từ nay đến cuối tháng sẽ có chương trình bố trí dân cư cho giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020.
Khi rà soát quy hoạch thì hiện chúng ta đang làm rất tốt, nhưng có khó khăn khi triển khai các dự án, đặc biệt là các dự án cụ thể xây dựng công trình thủy điện, thủy lợi. Các dự án thủy điện thủy lợi bao giờ cũng có một hợp phần bố trí dân cư, nhưng thực tế việc bố trí quỹ đất gặp khó khăn.
Các dự án bố trí dân cư theo Quyết định 193 thì hầu hết bà con đều có nơi ở tốt hơn nơi ở cũ, đảm bảo các điều kiện sản xuất, vì nếu không đảm bảo như vậy thì dự án không được triển khai. Nhưng các dự án về các công trình thủy điện, thủy lợi còn nhiều vấn đề, vì di dân rất lớn, ít nhất là vài nghìn hộ, trong khi dự án, chương trình 193 thì nhiều lắm chỉ 200 hộ. Giữa quy hoạch và thực hiện các dự án vẫn có những vấn đề cần giải quyết.
BTV: Ở góc độ địa phương, việc quy hoạch các khu định canh định cư có gặp những khó khăn gì thưa ông Nguyễn Hữu Hải?
Ông Nguyễn Hữu Hải: Chúng tôi cũng thống nhất rằng việc thực hiện Quyết định 193 và 33 không vướng mắc nhiều. Vướng mắc nhiều nhất là với di dân, định canh định cư với các dự án thủy điện.
BTV: Khán giả số điện thoại 0914122… có hỏi dự án Thủy điện An Khê triển khai từ năm 2005 đến nay cơ bản hoàn thành, nhưng vẫn chưa giải quyết bồi thường hỗ trợ khi thu hồi đất của các hộ dân theo chính sách (chưa bố trí đất tái định cư, chưa hoàn thành công trình thủy lợi, chưa chi trả tiền khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ 1 vụ hoa lợi)… xin được hỏi ông phạm Khánh Ly, với những trường hợp này quan điểm của ông như thế nào?
Ông Phạm Khánh Ly: Trước đây, mỗi công trình thủy điện, thủy lợi khi triển khai đều có quyết định tạm thời với chế độ chính sách cụ thể của từng dự án hỗ trợ, đền bù cho người dân, thường dự án sau, chính sách tốt hơn dự án trước. Vì vậy, những dự án nào càng lâu thì đời sống người dân càng khó khăn. Năm 2010, Bộ NNPTNT tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 34/2010/QĐ-TTg về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện trên toàn quốc.
Đối với dự án như Thủy điện An Khê, do đã thực hiện từ năm 2005 nên không có yếu tố hồi tố. Và chúng tôi cũng biết rằng Thủy điện An Khê còn thiếu nhiều vấn đề đối với người dân như: đất sản xuất, thậm chí những vùng đất tốt thì người dân bản xứ đã sử dụng hết, còn lại đa phần là đất bạc màu nên hiệu quả di dời người dân tái định canh, định cư còn khó khăn.
BTV: Với những hộ dân tái định cư ở các khu vực lòng hồ thủy điện, thủy lợi thì vấn đề tư tưởng cũng rất quan trọng, xin đồng chí Đại tá Tạ Nhân cho biết với vai trò là đơn vị đứng chân trên địa bàn, các đơn vị của Quân khu 5 đã tham gia vận động về mặt tư tưởng cho người dân như thế nào?
Đại tá Tạ Nhân: Bộ Tư lệnh Quân khu 5 chủ trương hành quân dã ngoại về buôn làng khó khăn để đả thông tư tưởng cho bà con. Từ năm 2008, chúng tôi kết hợp thêm việc huy động lương thực, thực phẩm hỗ trợ cho người dân. Riêng năm 2012, từ “hũ gạo hỗ trợ người nghèo”chúng tôi đã huy động được 192 tấn gạo cho người dân tại các khu, cụm tái định cư. Đồng thời, cử các đội công tác “ba cùng” kết hợp với cấp ủy, chính quyền chính quyền địa phương, để năm bắt tâm tư tình cảm của người dân để thực hiện các chủ trương trên và an dân.
Một khán giả hỏi: Huyện Kon Plông có 2 công trình thủy điện là Thượng Kon Tum và Đăk Đ'rinh đã khởi công, nhưng khi nào mới di dân ra khỏi vùng vùng hồ?
Ông Nguyễn Hữu Hải: Tại Kon Plông có 2 công trình thủy điện đang triển khai. Thời gian qua tỉnh, huyện và chủ đầu tư đã phồi hợp bàn bạc giải quyết các vấn đề đặt ra, nhưng công tác triển khai có chậm trễ. Hiện doanh nghiệp đang triển khai việc mở đường giao thông, xây công trình phúc lợi, khai hoang… Tỉnh đã yêu cầu nếu doanh nghiệp không giải quyết xong những vấn đề này thì tỉnh dứt khoát không chấp nhận.
Nhưng cũng phải nói rằng, do khó khăn về tài chính nên tiến độ còn chậm. Chúng tôi cam kết hoàn thành công tác định canh định cư trước khi tích nước và vận hành nhà máy, không thể để tích nước xong mới lo cho dân, vì làm thế là trái với quyết định của Chính phủ.
BTV: Một độc giả khác hỏi ông Trịnh Công Khanh: Thủy điện Sông Bung 4 (Quảng Nam) đã khởi công và đồng bào nhận được đền bù lớn, nhưng các hộ đã xây nhà to, sắm xe máy trong khi đất định cư xấu, đồi núi dốc? Có giải pháp nào cho vấn đề này không thưa ông?
Ông Trịnh Công Khanh: Thực trạng này không chỉ ở Quảng Nam. Là cơ quan nghiên cứu về đền bù, tái định cư, chúng tôi thấy có thực trạng là để đạt mục tiêu giải phóng mặt bằng, hầu hết các nhà đầu tư đều đền bù rất lớn, ở Sơn La là vô cùng lớn, gồm làm nhà, hỗ trợ tiền và lương thực. Nhưng điều quan trọng nhất là ổn định sản xuất thì nhiều dự án chưa làm được. Giải pháp sắp tới là phải xác định ổn định đời sống là quan trọng nhất.
Ông Phạm Khánh Ly: Trước khi có Quyết định 34 của Thủ tướng Chính phủ, trong các dự án tái định canh định cư cho các công trình thủy điện thủy lợi, cơ sở hạ tầng được xây dựng rất tốt, đẹp, nhưng tỷ lệ kinh phí cho cơ sở hạ tầng lên đến 95%, chỉ dành 5% cho ổn định sản xuất. Ví dụ, khi chúng tôi đến dự án Tả Trạch thì thấy nhiều người dân có tivi, xe máy đẹp, nhưng không có tiền đổ xăng. Không phải cứ giao xong tiền cho đồng bào là xong nhiệm vụ.
Sau Quyết định số 34/2010/QĐ-TTg ngày 8/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện, vấn đề này đã có chuyển biến. Cũng tại Nghệ An, dự án Bản Vẽ thì bị phản ánh nhiều, nhưng dự án Huổi Na triển khai theo Quyết định 34 thì rất tốt, rất ổn định. Điều đầu tiên là phải ổn định sản xuất, sau đó mới tính đến hạ tầng.
BTV: Với những dự án thủy điện như vậy cần có sự phối hợp đồng bộ như thế nào giữa chủ đầu tư và địa phương để giải quyết tốt vấn đề hậu định canh, định cư?
Ông Nguyễn Hữu Hải: Về Kon Tum, rút kinh nghiệm từ công trình thủy điện Yaly và Pleirong mà tới giờ này chưa xử lý xong hậu quả. Tỉnh Kon Tum có rất nhiều công trình thủy điện, vì vậy, tỉnh đã chỉ đạo phải tập trung chăm lo cuộc sống người dân về điều kiện sản xuất để sống được trên vùng đất tái định canh, định cư. Tỉnh đã thống nhất chủ đàu tư giao hợp phần cho địa phương.
Nhưng khó khăn là địa hình Kon Tum rất dốc, khó tìm đất ở chứ chưa nói đến đất sản xuất. Đây là vấn đề rất nan giải. Ngay trường hợp thủy điện Pleikrong, khai hoang 200ha nhưng đất xấu, người dân không nhận. Nhưng điều đáng mừng là cả Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) rất quan tâm đến vấn đề này và khi địa phương đề cập những vấn đề bất cập thì EVN tiếp tục hỗ trợ từng bước giải quyết.
BTV: Ở góc độ là cơ quan làm về chính sách liên quan đến vấn đề dân tộc, vậy sắp tới chúng ta có thay đổi gì về chính sách để có cơ chế phối hợp đồng bộ, ràng buộc nhất định, chứ không thể cứ di dân, thanh toán tiền đền bù xong là xong, một loạt những vấn đề đằng sau thì không biết là trách nhiệm của ai và đến khi nào mới giải quyết, thưa ông Trịnh Công Khanh?
Ông Trịnh Công Khanh: Khi tiến hành các dự án thủy điện nói riêng và các dự án công trình quốc gia (khai khoáng, thủy điện, giao thông…) thì phải đặt quyền lợi của đồng bào dân tộc thiểu số lên trên hết. Chúng ta phát triển kinh tế vì mục tiêu quốc gia nhưng không vì thế mà quên mất quyền lợi của đồng bào dân tộc.
Muốn làm được như vậy, thứ nhất phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành trong xây dựng các thông tư hướng dẫn, đề xuất chính sách để đảm bảo cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số phải tốt hơn nơi ở cũ, chúng ta phải kiên quyết thực hiện. Thứ hai là cần bố trí ngân sách, đảm bảo đất sản xuất, ổn định cuộc sống, phát triển các dịch vụ xã hội, để đồng bào đảm bảo cuộc sống kể cả về vật chất và tinh thần.
BTV: Có thể tạm gọi bố trí về đất ở, đất sản xuất và hỗ trợ vốn di dời là phần cứng, nhưng phầm không kém quan trọng là phần mềm giúp họ sản xuất cái gì và như thế nào như thế nào? Theo Đại tá Tạ Nhân nên tổ chức hỗ trợ đồng bào tái định cư như thế nào về phương thức sản xuất?
Đại tá Tạ Nhân: Trước đây bà con có thói quen đốt tỉa, bây giờ bà con có trình độ cao hơn, đã có thể trồng được lúa nước, công nghiệp và sản xuất hàng hoá. Do vậy, những nơi đã phát triển nhất định và có thế mạnh nhiều lao động trẻ thì đầu tư sản xuất công nghiệp, còn lại phát triển kinh tế gia đình nhưng phải đầu tư khoa học kỹ thuật để hiệu quả hơn.
![]() |
Tây Nguyên có nhiều điều kiện phát triển cây công nghiệp |
BTV: Trên cơ sở chia sẻ của Đại tá Tạ Nhân, tôi thấy rằng, hỗ trợ sau tái định cư mới là điều kiện đủ để đảm bảo cuộc sống cho người dân vùng định canh, định cư. Vậy xin hỏi ông Phạm Khánh Ly, chúng ta có hỗ trợ đào tạo nghề, an sinh xã hội gì khác đối với đồng bào vùng định canh, định cư?
Ông Phạm Khánh Ly: Trên thực tế chúng ta mới đưa dân tới nơi ở mới, bước đầu cho bà con có chỗ ở ổn định nhưng vấn đề định canh, tức là vấn đề ổn định sản xuất, tạo điều kiện cho phát triển lâu dài cần được quan tâm hơn. Trước đây, bà con có đất ở và đất sản xuất rất rộng nhưng hiện nay chúng ta chỉ mới hỗ trợ 1-2 ha rừng, 7.000 m2 đất, còn lao động thế nào, cải thiện phương thức sản xuất ra sao cần thông qua các chương trình khuyến nông, khuyến ngư để giúp bà con.
Đối với hậu tái định canh, định cư, nên đặc biệt chú ý những nghề truyền thống, chúng ta phải có những dự án giúp đồng bào tạo ra sản phẩm có thể xuất khẩu hoặc phục vụ du lịch. Đối với lao động trẻ, có thể đào tạo nghề cho họ và tạo điều kiện cho họ đi xuất khẩu lao động.
Đối với lao động người già, chúng ta nên phát triển mô hình “Mỗi làng mỗi nghề” để tạo việc làm cho họ, tận dụng sức lao động nâng cao cuộc sống của người dân. Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn đang tiếp tục nghiên cứu chính sách và trong thời gian tới đây, sẽ có thêm những đề xuất chính sách mới, nhằm tích cực hỗ trợ cho đồng bào tái định canh, định cư.
BTV: Việc triển khai các chính sách hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm, vay vốn tín dụng tại tỉnh Kon Tum đã được thực hiện ra sao và đã mang những kết quả cụ thể gì thưa ông Nguyễn Hữu Hải?
Ông Nguyễn Hữu Hải: Quan điểm chung là chúng ta cố gắng đào tạo, giữ gìn ngành nghề truyền thống của từng dân tộc. Tỉnh đã tổ chức đào tạo, hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề đối với dệt thổ cẩm, đan lát, hỗ trợ vốn sản xuất, xóa đói giảm nghèo… Tuy nhiên, khó khăn là đào tạo nghề khá nhiều nhưng người học nghề lại không có việc làm, không sống được với nghề đã học.
BTV: Hiện một số cơ sở đào tạo nghề đang đẩy mạnh đào tạo theo địa chỉ, liên kết với doanh nghiệp tuyển dụng. Không biết chúng ta có kết nối đào tạo nghề với nơi tuyển dụng hay không, thưa ông?
Ông Nguyễn Hữu Hải: Chúng tôi đã đề xuất nên dành một phần kinh phí đào tạo thực hành cho các doanh nghiệp để đào tạo xong thì nhận vào làm việc luôn. Như vậy về mặt xã hội, người học biết học xong sẽ có chỗ làm và nhà nước cũng không lãng phí chi phí đào tạo.
BTV: Ông Trịnh Công Khanh có đề xuất gì thêm cho chính sách hậu tái định canh, định cư?
Ông Trịnh Công Khanh: Thực hiện Quyết định 1956 và Chương trình đào tạo nghề theo Nghị quyết 30a cho thấy Nhà nước rất quan tâm đến đào tạo nghề nhưng hoạt động này chưa gắn với nhu cầu thực sự. Giải pháp cơ bản nhất là gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm. Trong năm 2012 Ủy ban Dân tộc soạn thảo Đề án phát triển nguồn nhân lực đối với đồng bào dân tộc thiểu số trong đó nhấn mạnh đào tạo, dạy nghề, trình Chính phủ chính sách hỗ trợ phát triển ngành nghề truyền thống, đặc biệt đối với dự án tái định cư thủy điện.
Một độc giả gửi email hỏi: Quảng Ngãi có 27 dự án định canh, định cư tập trung, còn lại vẫn trong tình trạng quy hoạch treo, vì chưa có cơ quan có thẩm quyền nào đề cập đến việc cấp vốn để thực hiện, dù rằng dự án đã được thực hiện cách đây 4 năm. Vậy không biết trong thời gian các chính sách về định canh định cư, hỗ trợ di dân có được tiếp tục triển khai không hay chỉ dừng lại ở năm 2012?
Ông Trịnh Công Khanh: Sau khi sơ kết 5 năm thực hiện Quyết định 33 và Quyết định 1342, chúng tôi thấy nội dung còn lại rất nhiều. Vốn ngân sách mới đáp ứng 54%, mới chỉ có 9/19 nghìn hộ được định canh định cư.
Xuất phát từ đó, Thủ tướng Chính phủ cho phép trước mắt tiếp tục triển khai trong năm 2013. Ủy ban Dân tộc sẽ trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 11/2012 về việc sửa đổi Quyết định 33 và điều chỉnh một số dự án theo Quyết định 1342. Hướng điều chỉnh là phải tiếp tục bố trí đủ vốn, cân đối đồng bộ, một số địa phương xây dựng các dự án nhưng không đảm bảo quỹ đất sản xuất thì phải điều chỉnh lại. Tất cả các dự án, trong đó có các dự án ở Quảng Ngãi, sẽ được bố trí đủ vốn theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt.
![]() |
Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, tạo việc làm ổn định cho đồng bào dân tộc |
Ông Phạm Khánh Ly: Tôi nhất trí với ý kiến của ông Trịnh Công Khanh. Vấn đề mà độc giả quan tâm cũng là thực trạng của tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua. Trước đây, theo Quyết định 193, hàng năm Chính phủ cũng bố trí cho Quảng Ngãi một lượng vốn tương đối lớn, trung bình 1 năm 10 tỷ đồng, có năm 20 tỷ đồng.
Nhưng 3 năm trở lại đây, Quảng Ngãi là một trong những tỉnh có nguồn thu ngân sách phải nộp về Trung ương, nên Chính phủ sẽ không bố trí nguồn vốn chương trình cho Quảng Ngãi nữa. Chính vì vậy trong thời gian qua, các dự án bố trí dân cư tại Quảng Ngãi gặp khó khăn. Chúng tôi đã đề nghị địa phương trích một phần ngân sách Trung ương để lại cho địa phương nhưng thực tế nguồn vốn cũng gặp khó.
BTV: Thưa ông Nguyễn Hữu Hải, trong thực tế thực hiện công tác định canh định cư tại địa phương, có quy định nào của Chính phủ mà thực tiễn khó áp dụng hay không? Chẳng hạn quy định về về quy mô áp dụng điểm dự án định canh, định cư tập trung; hay quy định về diện tích đất sản xuất tối thiểu cho mỗi hộ dân?
Ông Nguyễn Hữu Hải: Chính sách ban hành không theo kịp giá cả thị trường nên mức hỗ trợ còn thấp, ví dụ năm 1997-1998 thì mức hỗ trợ như vậy là hợp lý nhưng năm 2012 với định mức hỗ trợ như vậy thì là chưa hợp lý. Một vấn đề là làm sao đảm bảo người dân tái định canh, định cư có cuộc sống tốt hơn, bền vững thì thời gian hỗ trợ sản xuất của bà con 1 năm quá ngắn.
Theo tôi ít nhất phải là 3 năm. Khi chúng ta quyết tâm hỗ trợ bà con ổn định cuộc sống thì chính sách nên dài hơi, nhất là chính sách sản xuất. Hiện nay, giai đoạn đầu có dự án thì đường sá đẹp, nhưng dự án rút đi, 1-2 năm sau thì bà con lại nghèo trở lại. Vì vậy, nên điều chỉnh lại thời gian dự án kéo dài hơn.
BTV: Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện “Chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số” theo Quyết định 33/QĐ-TTg cũng đã chỉ rõ: Quá trình triển khai thực hiện chính sách còn những hạn chế, bất cập như một số dự án chưa sát thực tế, phương án sản xuất không rõ ràng, chưa gắn sản xuất với đất đai và chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, cây công nghiệp của đồng bào vùng dự án định canh định cư làm ra, nên hiệu quả kinh tế thấp, không bền vững, dẫn đến tái du canh du cư và di cư tự do ở một số địa phương. Một số nơi còn buông lỏng quản lý hộ tịch, hộ khẩu và quản lý đất sản xuất dẫn đến tình trạng phá rừng, ô nhiễm môi trường. Các vị khách mời có thể nêu đề xuất kiến nghị trong phạm vị quyền hạn và cương vị công tác của mình để khắc phục những hạn chế và tồn tại nêu trên?
Đại tá Tạ Nhân: Tôi cho rằng vấn đề lớn nhất là chúng ta làm như thế nào. Ví dụ ở Quảng Nam, một kinh nghiệm hay là giao đất giao rừng phải giao cho từng làng, từng bản chịu trách nhiệm chung, gắn bó với đất rừng, với các trưởng bản có uy tín và gắn bó với rừng. Thứ hai, phải đào tạo thêm cho người dân, hỗ trợ theo thực tế, quan tâm công tác dân vận để xây dựng mối đoàn kết giữa các dân tộc.
Ông Phạm Khánh Ly: Trước hết phải có nhận thức chung của các cơ quan quản lý nhà nước và người dân rằng đây là vấn đề quan trọng, từ đó bố trí nguồn vốn hợp lý, đáp ứng nhu cầu. Các tổ chức chính trị địa phương cần tuyên truyền để bà con hiểu về điều kiện của chúng ta còn nhiều khó khăn.
Ngoài ra, tôi cho rằng phải nâng mức hỗ trợ lên cho phù hợp với thực tiễn. Cùng với đó, động viên các địa phương triển khai các hình thức di dân xen ghép hơn là tập trung.
Ông Nguyễn Hữu Hải: Tôi đồng tình với ý kiến các vị khách mời về định mức hỗ trợ, thời gian hỗ trợ. Chúng ta cần chăm lo không chỉ người du canh, du cư mà kể cả những người định canh định cư, vì đời sống khó khăn mới khiến họ di cư.
Câu chuyện đất nước ta từ một nước thiếu lương thực đến xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới khiến tôi đặt vấn đề chúng ta có tiềm năng rừng rất lớn, “rừng vàng biển bạc”, nhưng các tỉnh có nhiều rừng đều nghèo, khó khăn, phải chăng chính sách lâm nghiệp có gì đó chưa ổn. Do đó, chúng ta cần tạo điều kiện cho người dân để họ có thể sống bằng nghề rừng, giàu bằng nghề rừng.














