Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 06:46 GMT+7

Tổng thống Mỹ B.Ô-ba-ma trở lại châu Âu:

Trấn an người hay tìm lối thoát cho mình?

Biên phòng - Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma vừa có chuyến "trở lại" châu Âu dài 4 ngày (3-6/6) tới Ba Lan, Bỉ và Pháp nhằm thảo luận với các nhà lãnh đạo châu Âu về nỗ lực chung ủng hộ chính phủ mới được bầu lên tại U-crai-na; tăng cường và củng cố Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO); tìm cách đa dạng hóa nguồn cung năng lượng của châu Âu và tiếp tục thúc đẩy tiến trình đàm phán về Hiệp định đối tác đầu tư và thương mại (TTIP) xuyên Thái Bình Dương. Đây là chuyến thăm châu Âu lần thứ hai của ông chủ Nhà Trắng trong 3 tháng qua.

jpti_24a-1.jpg
Tổng thống Mỹ và Tổng thống Ba Lan bắt tay khi ông Ô-ba-ma tới sân bay ở Vác-sa-va. Ảnh: Reuters

Trấn an Đông Âu...

Khác chuyến công du hồi cuối tháng 3 tới "Lục địa già" để phối hợp lập trường đối phó với Nga sau vụ Crưm, chuyến đi lần này, mà đáng chú ý nhất là chặng dừng chân tại Ba Lan, chủ yếu để trấn an các nước Đông Âu hiện đang rất lo ngại trước ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng ở U-crai-na.

Cho dù lịch trình chuyến công du châu Âu lần này của ông Ô-ba-ma dày đặc, chủ đề bao trùm lên hết dĩ nhiên vẫn là cuộc khủng hoảng ở U-crai-na. Tổng thống Mỹ trấn an đồng minh Ba Lan, gặp tân Tổng thống U-crai-na ở Vác-sa-va và dự cuộc họp thượng đỉnh Nhóm G-7 ở Brúc-xen bàn về cuộc khủng hoảng này.

Ngay khi vừa đặt chân đến Thủ đô Vác-sa-va, Tổng thống Ô-ba-ma đã tuyên bố cam kết của Mỹ bảo vệ an ninh cho Đông Âu là vấn đề "tối thượng".

Ông chủ Nhà Trắng tuyên bố như vậy sau khi gặp các phi công Ba Lan và Mỹ tại sân bay Vác-sa-va. Tổng thống Mỹ cũng trấn an rằng Oa-sinh-tơn và NATO đã tăng cường bảo vệ an ninh cho Ba Lan trong cuộc khủng hoảng ở U-crai-na.

Trước khi rời Oa-sinh-tơn thực hiện chuyến thăm, ông Ô-ba-ma đã đề xuất một kế hoạch an ninh tốn kém 1 tỷ USD để hỗ trợ và đào tạo các lực lượng vũ trang cho các nước NATO nằm sát biên giới Nga. Kế hoạch này (còn chờ Quốc hội Mỹ phê chuẩn) dự trù triển khai thêm lực lượng Mỹ trên bộ, trên không và trên biển ở Đông Âu.

Kế hoạch này cũng nhằm nâng cao trình độ của các quốc gia không thuộc khối NATO như U-crai-na, Gru-di-a, Môn-đô-va, để các nước này có thể hợp tác với Mỹ và các đồng minh phương Tây, đồng thời giúp các nước này tăng cường khả năng phòng thủ.

Đề xuất của vị Tổng thống da màu này đánh dấu một sự chuyển hướng đáng kể từ xu thế hướng tới một sự hiện diện quân sự ít hơn của Mỹ trong hai thập kỷ qua ở châu Âu trong bối cảnh chính quyền Ô-ba-ma tăng cường lực lượng không quân và hải quân ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Nhà Trắng cho biết, ông Ô-ba-ma cũng đang tìm cách đẩy mạnh sự tham gia của hải quân Mỹ trong các hoạt động của NATO ở biển Đen và biển Ban-tích.

Tuy nhiên, Nhà Trắng cũng cho biết sẽ xem xét lại việc triển khai quân thường trực ở châu Âu sau cuộc khủng hoảng U-crai-na, mặc dù không đưa ra cam kết cụ thể nào về việc đưa quân vào Ba Lan và một số nước láng giềng của Nga như họ mong muốn.

Đồn trú quân thường trực ở Đông Âu là rất khó, bởi nhiều nước thành viên NATO ở Tây Âu sẽ phản đối vì chi phí tốn kém, đồng thời việc tăng quân của Mỹ ở những nước sát sườn Nga cũng sẽ khiến Mát-xcơ-va có những động thái trả đũa tương tự và dần dần đẩy các bên vào một cuộc chạy đua vũ trang.

Trong thời gian 2 ngày ở Vác-sa-va, ông Ô-ba-ma cùng Tổng thống Ba Lan Brô-nhi-xoáp Cô-mô-rốp-xki đồng chủ trì một cuộc họp với các quốc gia Trung và Đông Âu - những nước từng đứng sau Bức Màn Sắt song hiện đã là thành viên của NATO, gồm Bun-ga-ri, Crô-a-ti-a, Cộng hòa Séc, E-xtô-ni-a, Hung-ga-ri, Lát-vi-a, Lít-va, Ru-ma-ni và Xlô-va-ki-a.

Tổng thống Mỹ một lần nữa đã khẳng định cam kết của ông đối với các đồng minh Đông Âu - những nước đang lo ngại trước sức ép của Nga đối với U-crai-na - rằng Oa-sinh-tơn chắc chắn sẽ thực hiện nghĩa vụ theo Điều 5 của Hiến chương NATO về việc thực thi phòng vệ tập thể.

Tổng thống Ô-ba-ma lẽ ra có thể ghé qua Ki-ép nhân chuyến công du này, nhưng ông đã không làm như vậy vì không muốn khiêu khích Mát-xcơ-va. Thay vào đó, ông đã có cuộc gặp Tổng thống đắc cử U-crai-na Pi-ốt Pô-rô-sen-cô tại Ba Lan và cử Phó Tổng thống Giâu Bai-đơn ngày 7-6 đến U-crai-na dự lễ nhậm chức của ông Pô-rô-sen-cô.

Nhà Trắng hiện tỏ ra lạc quan sau khi quân Nga bắt đầu rút khỏi vùng biên giới giáp U-crai-na và khả năng sắp đạt được một thỏa thuận về khoản tiền hóa đơn năng lượng mà U-crai-na còn thiếu của Nga.

…hay tìm lối thoát cho chính mình?

Một số nhà phân tích quốc tế cho rằng, sở dĩ Mỹ phải tìm cách tái khẳng định các cam kết, gia tăng hợp tác để củng cố mối quan hệ với các đồng minh châu Âu là vì Mỹ đang ở thế kẹt, cần tìm lối thoát. Họ nhìn nhận hành động của Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển của Việt Nam cùng với việc Nga sáp nhập Crưm, như một chiến lược gọng kìm của Trung Quốc và Nga chống lại ảnh hưởng của Mỹ.

Trong 3 năm qua, Nga và Trung Quốc đã tìm cách xây dựng liên minh chiến lược, cho dù còn lỏng lẻo, để chống lại ảnh hưởng của Mỹ. Vào lúc Nga sáp nhập Crưm và làm cho chiến trường Tây Âu rối ren thì Trung Quốc cũng khuấy động bất ổn ở phía Đông.

Đó là một động thái xiết gọng kìm, với cuộc chiến phi đối xứng, được tính toán kỹ lưỡng, sử dụng tối thiểu lực lượng và thủ đoạn, chưa đến mức để gây ra phản ứng quân sự của Mỹ, nhưng cũng đủ để Nga và Trung Quốc đi xa hơn trong các mục tiêu của mình.

Điều này phần nào được khuyến khích do chính quyền Ô-ba-ma đã mất đi khả năng đối phó với một cuộc chiến trên hai mặt trận. Trung Quốc và Nga đã buộc Mỹ phải dàn trải các mối quan tâm và nguồn lực.

0vem_24b-1.jpg
Không thăm Ki-ép, song ông Ô-ba-ma có cuộc gặp ngắn với Tổng thống đắc cử U-crai-na (trái) ngay tại Vác-sa-va để ủng hộ nhà lãnh đạo này. Ảnh: AP

Thực tế, Mỹ, với tư cách là cường quốc thế giới, đang trong quá trình rút lui chiến lược nhanh chóng với nhiều thất bại về an ninh, như trong hồ sơ I-rắc (ra đi quá sớm), Áp-ga-ni-xtan (chiến lược chống nổi dậy quá khó để thực hiện), Li-bi (tình trạng ngày càng tồi tệ sau Mùa Xuân A-rập) và Y-ê-men (An-kê-đa có căn cứ mới bất chấp các vụ tấn công liên tiếp bằng máy bay không người lái).

Chính sách dấn thân vào Trung Đông của Tổng thống Ô-ba-ma ở Trung Đông trong bài diễn văn Cai-rô 2009 đã thất bại vì khủng bố thánh chiến Hồi giáo gia tăng và tất cả các cuộc cách mạng Mùa Xuân A-rập không mang lại kết quả như ý muốn.

Trong những năm gần đây, chính quyền của Tổng thống Ô-ba-ma cũng còn phải tập trung sức lực để vực dậy nền kinh tế bị tàn phá nghiêm trọng do "bão" tài chính 2007-2009 và đó là một trong những nguyên nhân khiến Mỹ bị "bó buộc" trong nhiều vấn đề đối ngoại, làm ảnh hưởng tới vị thế của Oa-sinh-tơn trên trường quốc tế, đối lập với sự vươn lên ngày càng mạnh mẽ trên sân chơi toàn cầu của các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Nga...

Sự kiện Crưm và Biển Đông khiến Mỹ ý thức hơn về sự cần thiết phải làm mới lại quan hệ đồng minh với "lục địa già", củng cố sức mạnh nội tại để có vị thế mạnh hơn trong các tình huống bất ngờ.

Nói cách khác, các cuộc khủng hoảng đã khiến Oa-sinh-tơn phải nhìn nhận lại những "lỗ hổng" trong chính sách đối ngoại của mình để từ đó có sự điều chỉnh phù hợp. Hay như nhận định của tờ "Thời báo Tài chính" (Anh) rằng chính các cuộc khủng hoảng đã đưa các nhà lãnh đạo Mỹ và châu Âu xích lại gần nhau, điều mà chỉ nửa năm trước ít ai có thể tưởng tượng được.
Phương Thanh

Bình luận

ZALO