Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 11:57 GMT+7

Trên đỉnh núi mờ sương....

Biên phòng - Sáng. Trên đỉnh núi mờ xa còn bảng lảng sương đêm, trường Mầm non Bản Máy mờ ảo hiện ra giữa trập trùng đồi núi. Trường mới mọc lên khang trang giữa những nếp nhà lúp xúp bên sườn núi. Cô giáo Hằng dậy từ rất sớm, "đi tuần" một vòng quanh trường rồi lại trở về, ngồi lặng bên cửa lớp, chờ tiếng trẻ thơ ríu rít đến trường.

1epu_10b-1.jpg
Học trò vùng cao xã Bản Máy bên đồi hoa tam giác mạch. 

Cô giáo Hằng quê ở Tuyên Quang. Ấy vậy mà từ già bản cho tới các em nhỏ của bản Máy, bản Pắng ai ai cũng tự hào nói: "Cô Hằng là con của bản làng mình đó". Thấm thoát thế mà đã 20 năm, cô giáo Hằng gắn bó với bản làng vùng cao biên giới này. Bản Máy vốn được coi là xã khó khăn bậc nhất của tỉnh Hà Giang, nhiều người chỉ nghe nói tới đường sá đi lại khó khăn, hiểm trở cũng giật mình khiếp sợ, không dám lên đây công tác.

Lúc đầu, khi nhận quyết định lên đây, cô Hằng khóc ròng rã cả tháng trời. Bà con dân bản nhìn cô giáo nhỏ bé như chim chích lọt thỏm giữa rừng núi bao la, bốn bề chỉ có đồi và núi âm u, heo hút, ai cũng động lòng thương cảm, lo sợ cho cô giáo không vượt qua được những khó khăn, khắc nghiệt của thời tiết nơi vùng đất mới. Thế rồi, ngày tháng thoi đưa, giờ đây, cô Hằng đã trở thành một công dân đích thực của Bản Máy. Đường đi dẫu có gập ghềnh, hiểm trở đến đâu, cô cũng không còn khiếp sợ như trước. Cô bảo: "Mấy chục năm làm bạn với con đường này, giờ nó cũng phải ngại, phải sợ mình rồi".

Và quả thật, đất không phụ lòng người, thấy cô giáo yên tâm gắn bó với bản làng, bà con các dân tộc nơi đây ai cũng thương mến cô như người thân trong nhà. Có bó rau ngon, có cân gạo dẻo, bà con lại mang lên biếu cô giáo, đỡ đần cô trong những ngày mưa gió, không mua được thức ăn. Nhưng có một điều ai cũng trăn trở, ấy là chừng ấy năm rồi, cô Hằng vẫn chăn đơn, gối chiếc một mình. Cô coi các em nhỏ như người thân của mình, nhưng hạnh phúc riêng của cô vẫn còn bỏ ngỏ.

Mặt trời bắt đầu nhô dần lên đỉnh núi. Bây giờ đã cuối mùa hoa tam giác mạch. Trên các triền núi đá, những cánh hoa li ti, mỏng manh, trăng trắng phơn phớt hồng khoe sắc trong lớp sương sớm, phủ bạt ngàn một trời đá xám. Dưới những con dốc cheo leo, từng bước chân nhỏ xíu của các em nhỏ đạp vào vách đá, chắc chắn, vững chãi mà đi. Vượt qua những ngọn đồi hiểm trở, leo lên tới gần đỉnh núi, qua những triền đồi bạt ngàn hoa tam giác mạch màu trắng tinh khôi mới tới trường Mầm non Bản Máy. Vậy mà học trò nơi đây mới 4, 5 tuổi, bố mẹ bận đi nương cũng tự mình đến lớp. Lũ trẻ tung tăng đến trường, quên đi cái lạnh buốt giá đầu đông, quên đi quãng đường xa trơn trượt, nhớp nhúa bùn đất bắn tứ tung lên người. Chỉ cần được đến trường, đi qua con đường ngập tràn hoa tam giác mạch, được gặp lại gương mặt thân thương của cô giáo là chúng vui lắm rồi.

Bản Máy là một xã đặc biệt khó khăn vùng biên của huyện Hoàng Su Phì, là địa bàn sinh sống từ bao đời nay của 5 dân tộc anh em: La Chí, Tày, Phù Lá, Mông, Nùng. Xã có 4 bản nằm rải rác trên những sườn núi là Lùng Cẩu, Bản Pắng, Mã Tẻn và Lao Sán. Nằm trong Chương trình 135 và 30a của Chính phủ, mức sống của người dân nơi đây còn rất thấp, hộ nghèo chiếm tới 46,7%. Người dân chủ yếu sinh sống bằng trồng lúa nương và trồng sắn với kỹ thuật canh tác còn lạc hậu nên tháng giáp hạt, tỷ lệ hộ thiếu ăn khá nhiều.

Bên cạnh đó, cơ sở vật chất phục vụ dân sinh rất thiếu thốn, nhất là điều kiện giao thông còn nhiều khó khăn. Đường giao thông trong xã hoàn toàn là đường đất, chính vì vậy, vào mùa mưa, đường lầy lội, trơn như đổ mỡ, việc đi lại của người dân vô cùng vất vả, nhọc nhằn. Với các em nhỏ đang tuổi mẫu giáo thì khó khăn ấy còn tăng lên gấp bội phần. Bố mẹ suốt ngày lên nương, lên rẫy nên các em nhỏ nơi đây cũng thiệt thòi, không được chăm bẵm, nâng niu so với trẻ em dưới xuôi. Hiểu được điều ấy, các cô giáo trường Mầm non Bản Máy đều chăm lo cho các em bằng tất cả tình yêu thương của mẹ hiền, để bù đắp cho các em những thiếu thốn thiệt thòi.

Ở trường Mầm non Bản Máy không chỉ có hoàn cảnh éo le của cô giáo Hằng. Các cô giáo Thanh, Quỳnh, Doan, mỗi người một nỗi niềm, một hoàn cảnh riêng. Trường có 18 giáo viên thì chỉ có 4 cô là người địa phương, còn lại các cô giáo đều từ những miền quê xa chuyển đến. Cô Quỳnh quê ở Vĩnh Phúc, chồng và gia đình cô vẫn ở quê lo buôn, chạy chợ từng bữa để sinh sống. Một tháng đôi lần, cô Quỳnh lại thu xếp về thăm gia đình, ngủ lại với đứa con nhỏ vừa vào lớp 1 được vài đêm. Sáng mai, trời còn chưa tỏ, cô đã phải quýnh quáng trở lại trường. Vội vàng, sấp ngửa trốn con đi khi trời chưa kịp sáng, sợ con nhìn thấy lại bịn rịn, mẹ con không nỡ chia tay.

Cô Doan quê ở Nam Định, mỗi lần về thăm nhà, khi trở lại trường, đôi mắt cô đỏ hoe, sưng húp. Ai cũng thương cô Doan, chồng không có công ăn việc làm, lại hay ghen tuông. Nhiều lần, chồng cô Doan bắt cô phải bỏ trường, bỏ lớp, về quê làm ruộng. Nhưng đã gắn bó với trường lớp vùng cao này rồi, đã thân thuộc hình bóng của bao em nhỏ, bao cụ già trong bản, cô Doan không thể rời xa nơi này. Nhiều lần, nhìn thấy cô Doan nhận thư nhà rồi lặng thầm lau nước mắt, cô Hằng lại lựa lời an ủi. Ở khu tập thể này, cô Hằng như người chị cả. Hễ ai có chuyện vui, buồn, khó khăn đều tâm sự với cô Hằng để được lời khuyên cho vơi bớt nỗi niềm.

arcm_10a-1.JPG
Cô Hằng, cô Duyên vui chơi cùng các em nhỏ trường Mầm non Bản Máy.
 
Trưa. Nắng lên, vàng như rót mật đổ xuống sân trường. Lũ trẻ tung tăng chạy nhảy, hát ca giữa không gian ấm áp, ngan ngát mùi hương hoa tam giác mạch. Đến giờ cho các cháu ăn trưa, các cô giáo lại tất bật với công việc thường ngày. Cô Hằng bảo: Ở đây, do xa xôi, khó khăn nên các cô phải mua thực phẩm cả tuần để phục vụ cho các cháu. Tuy nhiên, vẫn phải đảm bảo đủ chế độ dinh dưỡng theo yêu cầu. Thức ăn của các cô chỉ đơn giản là cá mắm, mì tôm, phở khô, nhưng thức ăn cho các con bao giờ cũng tươi ngon, đầy đủ dưỡng chất. Mỗi khi xem chương trình ti vi, thấy có món ăn nào ngon, loại sữa nào tốt, các cô đều ghi lại công thức và viết giấy ra ngoài huyện nhờ mua giùm. Suốt ngày cặm cụi với trẻ em từ sáng đến trưa, từ trưa đến chiều, đến mấy tháng các cô cũng không ló mặt ra ngoài huyện, nhiều lúc cứ như người rừng. Nhưng có một điều ai cũng nhận ra, các cô giáo nơi đây đã coi ngôi trường thực sự là nhà và các em nhỏ là những đứa con thân yêu, ruột thịt nhất của mình.

Chiều. Chiều biên giới thâm u, tịch lặng và đìu hiu đến vô cùng. Không biết đã bao nhiêu mùa hoa tam giác mạch đi qua, cô giáo Hằng gắn bó với những chiều biên giới buồn mênh mang như thế, vậy mà lòng cô vẫn cứ nao nao, buồn khôn tả. Chiều về, khi các em nhỏ rộn ràng trở về ngôi nhà thân yêu đoàn tụ với gia đình, cô Hằng lại lụi cụi một mình bên căn phòng nhỏ. Chỉ một mình cô đối diện với đồi núi mênh mông. Chiều nay, các cô giáo trong khu tập thể đều về xuôi thăm gia đình, chỉ còn mình cô Hằng ở lại "canh trường". Cô thường bảo, làm bạn với núi đồi, với sự cô đơn riết rồi cũng thành quen.

Bà con dân bản và các em nhỏ nơi đây thầm ước nguyện, một ngày gần đây, cô Hằng sẽ tìm được hạnh phúc của riêng mình để bớt đi sự trống trải, cô đơn trong những ngày đông lạnh giá như thế này. Và, đó cũng là một động lực để cô ở lại với vùng đất này, gắn bó suốt đời với học sinh thân yêu nơi vùng cao biên giới.
Hà Mai

Bình luận

ZALO