Biên phòng - Nằm ở độ cao 320 mét so với mực nước biển, rộng 4,8km2, khai trường mỏ Cao Sơn nằm bên bờ Vịnh Bái Tử Long (Quảng Ninh) trong xanh và thơ mộng. Con đường lên mỏ ngoằn ngoèo uốn lượn, xe đi với tốc độ 20km/giờ mà vẫn xóc tung ghế ngồi. Mỏ ầm vang trong tiếng xe chạy, tiếng mìn phá đá, tiếng máy khoan, máy xúc, không tiếng người, không biết đến thời gian, cứ liên tục, liên tục hết đêm lại ngày.
![]() |
Những chiếc CAT 777D vào nhận than. |
Anh Hải, cán bộ kỹ thuật khai thác được Công ty phân công dẫn đoàn cho biết: Đó là chiếc xe CAT 777D chuyên dụng chở đất đá hạng nặng, lớn nhất ở Việt Nam với trọng tải 96 tấn. Hiện, Cao Sơn có 4 chiếc. Bên cạnh đó, Công ty còn có 9 xe HD trọng lượng 91 tấn. Năm 2010 vừa qua, 13 chiếc xe khổng lồ này đã đạt năng suất bình quân 2.900.000tấn km/năm. Anh Hải còn khoe: “13 chiếc xe đó cùng với 20 chiếc có trọng tải trên 50 tấn đã có ngày chiếm tỉ trọng sản lượng tấn km của mỏ trên 60%. Mua 1 chiếc xe đó mất 15 tỷ đồng, riêng chiếc lốp xe cũng đã 500 triệu”.
Khu sàng tuyển 2A của Công trường khai thác 3 đây rồi! Trước hết, hãy hiểu công đoạn sàng tuyển ở vị trí nào trong quy trình công nghệ sản xuất ra than? Đầu tiên là khoan thăm dò, sau đó nổ mìn phá, tiếp theo là bốc xúc và vận chuyển. Khâu này chia làm hai công đoạn: Bốc xúc và vận chuyển đất đá ra bãi thải. Còn bốc xúc và vận chuyển than thì đi sàng tuyển để phân loại than đáp ứng yêu cầu khách hàng. Vậy sàng tuyển là khâu quan trọng cuối cùng trước khi mẻ than “ra lò”. Giữa công trường nắng nôi, xe vào ra “ăn than” rầm rầm cuốn tung theo những đám bụi đen xì khiến chúng tôi không thể nhìn thấy bánh xe to bé thế nào. Đứng ngắm dòng than chảy lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời mới hiểu vì sao người ta gọi than là kim cương đen. Than đẹp một cách kiêu sa kỳ vĩ. Chẳng thế mà nhà văn Hoàng Việt Hằng phải chạy tung bụi than dưới nắng trời để chụp cho được những pha ảnh độc chiêu về khu sàng.
Chúng tôi gặp nữ Tổ trưởng tổ sàng, người đã 21 năm quản lý tổ sàng 2A này. Chị là Tống Thị Liên. Chị Liên cho biết, tổ có 14 công nhân nữ, 7 công nhân nam. Trong số họ, có em gái mới 23 tuổi, đã qua trung cấp nhưng không đi làm đâu, chỉ xin vào tổ sàng của Công ty làm việc. Công việc của các chị khá nhiều. Chạy máy vận hành dây chuyền sàng (Công trường có 4 sàng, mỗi sàng có 4 tuyến băng, mối tuyến băng 63 mét), rồi vẫy xe chở than vào máng cấp liệu, mở bã, vẫy xe chuyển tải than vào kho, phát phiếu xuất kho... Nỗi vất vả ở chỗ, toàn bộ chị em phải đứng suốt hoặc cơ động ngoài trời mịt mù bụi than, trên đầu họ chỉ mỗi chiếc nón che cả nắng, cả mưa. Nỗi vất vả nữa là phải làm cả ba ca.
Chị Liên bảo, việc sửa chữa máy móc hoặc cung cấp dầu, hay việc gò hàn, tiện, nguội có thể làm một ca, còn sàng tuyển không bao giờ được ngừng nghỉ vì than chảy liên tục như suối ra khỏi mỏ. Câu chốt cuối cùng của người nữ Tổ trưởng ấy là gì? “Đồng lương của tổ chúng tôi tuy nhiều hơn các tổ khác nhưng vất vả và nguy hiểm cũng nhiều” - Chị chỉ nói đến đó còn để tôi ngẫm nghĩ. Đúng như vậy. Công việc phải di động ngoài trời khi nắng khi mưa, suốt ngày bụi bặm đầy mình tất sẽ nguy cơ mắc bệnh phụ khoa. Chị em vào ngày “hành quân” phải làm việc cả ngày cả đêm ở nơi đất đá, thiếu nước sạch thì rửa ráy vệ sinh thế nào? Người mang thai dưới 6 tháng phải chạy xi nhan dưới trời mưa nắng hoặc đứng viết phiếu cho xe vào ra chuyên chở than thì chịu đựng ra sao? Còn việc đi làm đêm ca ba khuya khoắt. An ninh công trường có thể đảm bảo nhưng “an ninh gia đình” có đảm bảo không? Chị em nào có chồng hay ghen và không thích cho vợ đi làm đêm cũng là cả một vấn đề. Các chị em ở tổ sàng thì vậy, còn hàng trăm nữ công nhân lao động trực tiếp khác trên khai trường mỏ thì sao?
![]() |
Tạm biệt nữ Tổ trưởng tổ sàng tuyển, chúng tôi ra hố moong công trường khai thác. Đây mới là trung tâm của quy trình sản xuất. Là nơi cho chúng tôi biết thế nào là khai thác than lộ thiên. Nào, hãy hình dung ra có lần nào đó, ta được ăn chiếc bánh “chín tầng mây”. Loại bánh ấy có hai màu xanh - trắng (hoặc đỏ - trắng) cứ chồng lên nhau từng lớp một, hết màu này thì đến màu kia cho đến 9 tầng màu nên gọi là 9 tầng mây. Khi ăn, ta lấy thìa xúc lần lượt. Hết lượt bánh màu trắng thì đến lượt bánh màu xanh, hết lượt bánh màu xanh lại đến lượt bánh màu trắng. Khai thác than lộ thiên cũng tương tự như thế. Bóc một lớp đất sẽ được một lớp than, bóc hết lớp than lại gặp lớp đất. Nhưng cách bóc đất lấy than ở đây thứ tự theo đường xoắn ốc từng địa tầng, chứ không dễ dàng như ta xúc bánh. Ối chao, nếu không có chuyến đi thực tế này, tôi sẽ tưởng người ta đào than thành cái hố sâu hun hút xuống vực thẳm như chiếc phễu. Vách phễu sẽ thẳng tuột từ bờ xuống đến đáy. Theo cách “tưởng” ấy thì xe chỉ có tụt xuống mà không bao giờ lên được.
Vì thế, cách thông minh tuyệt vời và rất khoa học là khai thác đến đâu, lòng phễu sâu đến đấy theo đường xoáy trôn ốc đi xuống. Mà con đường xoáy trôn ốc phải rộng thừa hai làn xe tránh nhau. Theo con đường xoáy ấy, xe xuống chở đất đá lên đưa ra bãi thải và xe chở than lên đưa về khu sàng tuyển. Cái lòng phễu khổng lồ ấy người ta gọi là hố moong.
Trưa, chúng tôi đứng ở bờ này hố moong nhìn sang bờ bên kia và ngắm bao quát cả công trường. Với đường kính miệng hố rộng gần một ngàn mét và chiều sâu âm 70 mét so với mực nước biển, hố moong như một thung lũng khổng lồ dốc đứng. Nhìn vào lòng hố thăm thẳm, công trường đang rùng rùng chuyển động với đất đá, than, bụi và âm thanh của tiếng mìn, tiếng xe vang khắp một vùng. Những chiếc xe Benla trọng tải 30-40 tấn và xe ô tô CAT trọng tải trên 50 tấn to lừng lững là thế, mà nhìn chúng bò dưới lòng moong chở đất lên từng tầng không khác nào những chú kiến bò trong lòng chiếc chảo lớn.
Còn những chiếc máy xúc thủy lực, dung tích gầu từ 3-8m3 thì y như con kiến càng ngọ nguậy bới đất. “Nhòm” cảnh khai thác than dưới lòng chảo sâu, Phong Lan và mấy nhà báo trẻ muốn xuống lắm. Nhưng kỷ luật công trường không thể cho xuống đó vì nguy hiểm. “Vậy thì làm sao sờ được vào vỉa than đây?”. Câu hỏi được trả lời ngay: “Các anh chị hãy ngẩng lên nhìn tầng đất trên đầu và nhìn đất dưới chân ta đang đứng. Chúng ta đang đứng trong lòng moong ở độ cao gần 300m. Sau lưng ta cũng đang có một tổ xúc đang bóc đất đá để lấy than” - Theo lời anh Hải, chúng tôi ngẩng lên. Thấy tầng tầng các núi đất đá không hề có cây cối, đó là bãi thải của mỏ. Hiện nay, mỏ có đỉnh bãi thải cao nhất là 436m. Nhìn xuống xung quanh nơi đoàn đứng, cũng giữa một bãi thải khổng lồ, đất nhỏ, đá to lổn nhổn. Kỹ sư Hải đưa chúng tôi lại gần chiếc máy xúc đang làm việc giữa đất đá bụi tung. Anh giới thiệu: “Đây là loại máy xúc EKT có dung tích gầu 4,6m3. Hiện giờ, Công ty có hơn 3 chục máy xúc điện và thủy lực dung tích gầu từ 3,8 đến 12m3”.
Tôi không thể hình dung một cái gầu khi vục vào lòng đất múc lên được 12 khối đất nó sẽ to thế nào chứ nhìn cái máy xúc ngoạm gần 5 khối đất mỗi ngoạm đã khiếp. Để sản xuất được một tấn than ở đây thật vô cùng cực nhọc. Phải bóc từ 8 đến 10m3 đất đá mới khai thác được 1 tấn than. Mà đất đá vùng Cao Sơn thuộc loại rắn nhất trong các mỏ. Riêng chi phí khoan nổ mìn đã chiếm 25% tổng chi phí sản xuất của mỏ. Than ra sàng rồi, lại phải vận chuyển gần 20km mới ra đến cảng tiêu thụ. Ngày nắng đã khổ, ngày mưa còn khổ hơn. Mưa nhỏ thì đường trơn, bùn lầy, sạt đất. Mưa to thì lở núi, ngập hố moong không khai thác được. Nghe anh Hải bảo: “Ở Cao Sơn này, mưa to thà nghỉ mất năng suất còn hơn nguy hiểm đến tính mạng người công nhân”, tôi thấy yên lòng. Vậy mà Công ty vẫn tăng năng suất hàng năm, năm sau bao giờ cũng đạt sản lượng cao hơn năm trước. Riêng năm 2010 vừa qua, tuy rất khó khăn, Công ty vẫn sản xuất đạt 4,1 triệu tấn than, kỷ lục chưa từng có từ trước tới nay.
Thời gian không cho phép, chúng tôi không có cơ hội lên đồn Biên phòng, đơn vị kết nghĩa với Công ty, nơi mà trái tim và tình yêu của người công nhân vẫn ngày đêm hướng về. Trong mỗi câu chuyện của họ, luôn thắc thỏm về nỗi nhớ và những chuyến đi “hướng về biên giới” thân yêu. Tôi bất chợt nhớ câu thơ của Trịnh Công Lộc viết về tấm lòng người thợ mỏ Cao Sơn: Sáng lên đường nét của than/ Khắc họa tấm lòng người thợ/ Đường nét ấy/ Đậm nét mây trời và sóng bể/ Đậm nét đường đời...









