Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 12:15 GMT+7

Truyền thuyết Ơ Đu

Biên phòng - Vậy là đã 10 năm, kể từ khi hàng ngàn hộ dân sống trong lòng hồ thủy điện Bản Vẽ phải rời bỏ vùng đất định cư bao đời để đến nơi ở mới, nhường chỗ phát triển điện lưới quốc gia. Theo dòng người di dời ấy, 400 người con Ơ Đu đã về tạo lập cuộc sống mới ở bản Văng My và Tăng Kho thuộc xã Nga My, huyện Tương Dương. Để đến được với người anh em, mà ngay từ tên định danh dân tộc mình, có nghĩa là "Thương lắm", hay còn cách gọi khác là "Tày Hạt" - nghĩa là đói khổ nơi rừng núi phía Tây xứ Nghệ, chúng tôi đã không phải ngược dòng Nậm Nơn ghềnh thác.

p13g_10b-1.jpg
Những ngôi nhà tái định cư của cộng đồng Ơ Đu không thực sự phù hợp với truyền thống, phong tục của bà con.

Theo thống kê năm 2009, dân tộc Ơ Đu chỉ có hơn 600 người, chủ yếu sinh sống ở Nghệ An và có tới 80% số hộ thuộc diện nghèo. Dẫu có số dân ít ỏi, cuộc sống vô vàn khó khăn, thiếu đói, nhưng người Ơ Đu lưu truyền trong cộng đồng những truyền thuyết rất lãng mạn về lịch sử hình thành dân tộc mình. Người Ơ Đu già nhất, cụ Lo Văn Mằn mà chúng tôi được anh cán bộ văn hóa xã Nga My giới thiệu, khăng khăng khẳng định rằng, dân tộc của cụ đã được sinh ra cùng với dòng sông, ngọn núi ở Tương Dương.

Chuyện bắt đầu bằng một tình yêu éo le giữa một chàng trai nghèo và nàng công chúa xinh đẹp. Bị vua cha ngăn cấm, chàng trai đã bỏ vào rừng sâu. Người yêu của chàng sau bao ngày thương nhớ cũng trốn khỏi cung điện. Vượt qua rừng sâu núi cao, nàng đã gặp lại người yêu. Cảm động trước tình yêu của đôi trẻ, ông trời đã chọn ngọn núi cao nhất để hai người làm tổ ấm và đặt tên là Pu Lũng. Còn hai con sông Nậm Nơn, Nậm Mộ từng chứng kiến hành trình tìm người yêu của cô gái, đã biến thành dòng sông dát vàng. Họ đã sống bên nhau trọn đời và sinh ra những đứa con đẹp tựa thiên thần. Những đứa trẻ ấy chính là tổ tiên của tộc người Ơ Đu...

Tuy nhiên, những chứng cứ xác đáng và tin cậy nhất đã chỉ ra rằng, dân tộc Ơ Đu ngày nay, chính là một trong những tộc người góp phần cấu thành Tiểu quốc Bồn Man lừng lẫy. Đến thế kỷ XV, dưới thời Lê Thánh Tông, Bồn Man diệt vong và sáp nhập vào Đại Việt. Người Ơ Đu vẫn thường nhắc về vùng đất tổ thuộc lưu vực của các con sông Nậm Nơn, Nậm Mộ và lan tỏa đến tận đất Lào cùng những thành quách nơi Hữu Khuông, Pú Pâu oai hùng trên đất Việt. Có nghiên cứu chỉ ra rằng, trước đây, người Ơ Đu giỏi nghề phát nương làm rẫy, lại biết đãi cát tìm vàng, đánh cá và buôn bán, nên cuộc sống khá sung túc, trình độ xã hội khá cao.

Vậy mà quá khứ lẫy lừng đó đã phai nhạt, dân số Ơ Đu hiện nay thuộc vào nhóm ít nhất trong đại gia đình 54 dân tộc Việt Nam và bản sắc không còn lưu giữ được bao nhiêu. Ngay các nhà nghiên cứu và các nhà dân tộc học cũng vất vả, khi tìm kiếm và nhận định lại những gì là bản sắc văn hóa Ơ Đu. Bởi khi Bồn Man chấm dứt, người Thái, người Khơ Mú từ Tây Bắc tràn vào, người Ơ Đu yếu thế buộc phải cộng sinh và bị biến đổi đến nhạt nhòa như hôm nay.

Đi giữa bản Văng Môn, nơi người Ơ Đu cư trú đông nhất nước ta hiện nay với 90 hộ, chúng tôi như không tìm thấy đâu là một sắc thái riêng biệt. Chỉ thấp thoáng vài nếp nhà sàn hướng lên đỉnh núi, được bà con dựng thêm bên nhà chính tái định cư bằng bê tông cốt thép. Ban quản lý Dự án Thủy điện Bản Vẽ đã quy hoạch nhà ở cho người Ơ Đu không khác gì bản của những người Kinh, người Thái thuộc vùng dự án.

Trưởng bản Lò Hồng Phong cho biết, bản mới thiết kế không đúng với phong tục của bà con, nên họ mới chỉ tạm sinh hoạt ở dưới sàn chứ chưa vào ở. Thêm vào đó là đất sản xuất rất khó khăn, bà con chưa tự túc được lương thực, còn dựa vào trợ cấp. Được biết, dự án bảo tồn cộng đồng Ơ Đu được phê duyệt tháng 5-2005, có tổng mức đầu tư 3,043 tỷ đồng, trong đó 1,5 tỷ đồng cho bảo tồn văn hóa vật thể và phi vật thể, còn lại dành cho hỗ trợ sản xuất, xóa đói giảm nghèo và giáo dục. Nhưng dự án này đã bị cắt nhỏ thành nhiều phần, do nhiều cơ quan thực hiện nên thiếu đồng bộ.

Đơn cử như việc xây dựng nhà ở, làng bản người Mông thường cấu trúc theo hình vành khăn, người Khơ Mú theo hình tổ chim, còn người Ơ Đu  bố trí cư trú theo hình mặt tập... Song những ngôi nhà ở Văng Môn được bà con gọi là "nhà Chính phủ", vì không giữ được chút gì thuộc về truyền thống cấu trúc nhà ở, bản làng. Như vậy là đã phá vỡ bản sắc cư trú của bà con, đi ngược lại yêu cầu bảo tồn các giá trị văn hóa vốn đã rất ít ỏi của người anh em này.

Dù vậy, bên những đường làng được quy hoạch, dưới những mái nhà tái định cư, người Ơ Đu vẫn sống bằng canh tác ruộng rẫy truyền thống. Văng Môn ngày nay, vẫn còn đó những nghi thức độc đáo của một cộng đồng cư dân nông nghiệp lâu đời. Họ là dân tộc duy nhất trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam tôn thờ tiếng sấm, trong đời sống tâm linh cũng như sinh hoạt thường ngày. Không tính lịch theo trăng sao và mặt trời, người Ơ Đu tính thời gian bắt đầu một năm là ngày có tiếng sấm đầu tiên. Họ mừng năm mới, bắt đầu gieo trồng theo tiếng sấm.

Ngày đó, người Ơ Đu mở hội "Chămprông". Tất cả những việc quan trọng của dòng họ, bản làng đều lấy thời điểm có tiếng sấm vang lên để quyết định. Đứa trẻ khi sinh ra chỉ được chính thức đặt tên và công nhận dự hiện diện của nó, khi có tiếng sấm đầu tiên. Người già chết đi cũng phải chờ tiếng sấm thì mới được coi là đã siêu thoát về với Then - Trời.

Theo các khảo cứu, thời hoàng kim của Tiểu quốc Bồn Man, người Ơ Đu sống  độc lập với bản sắc riêng. Thế nhưng, biến động của lịch sử đã khiến người Ơ Đu suy thoái, phải sống xen kẽ với người Khơ Mú và Thái. Cùng chung một họ Lo nên người Ơ Đu thường không lấy nhau, mà kết hôn cùng nguời Thái, người Khơ Mú. Có lẽ chính vì yếu tố này, đã khiến cho văn hóa Ơ Đu hiện nay, có những ảnh hưởng khá mạnh của những tộc người láng giềng.

Phục trang truyền thống của Ơ Đu cũng không còn nữa. Nam giới Ơ Đu hiện nay mặc áo dài năm thân, cùng kiểu khăn vấn đầu cải tiến, thực chất chịu ảnh hưởng của trang phục người Việt xứ Nghệ từ những năm 40 của thế kỷ trước. Còn trang phục của phụ nữ thì gần giống với trang phục của phụ nữ Thái. Điều này cũng đồng nghĩa với việc vai trò của người phụ nữ Ơ Đu trong cộng đồng rất mờ nhạt. Ðàn ông được quyết định tất thảy các công việc trong nhà, còn người phụ nữ thậm chí không được hưởng cả quyền thừa tự. Từng được thiết lập trong một xã hội có tổ chức cao như Tiểu quốc Bồn Man, nhưng sau khi suy thoái, vai trò của các tổ chức như buôn làng, hay dòng họ Ơ Đu giờ đây đã không còn như trước.

Như những cộng đồng sinh sống trên đất Việt, người Ơ Đu dẫu có số dân khiêm tốn, nhưng cũng ít nhiều có đóng góp trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Qua hai cuộc kháng chiến, các dân tộc ở Tương Dương đã chứng kiến và ghi nhận nhiều thanh niên Ơ Đu nhiệt tình tham gia cách mạng và xây dựng quê hương. Nhiều người đã giữ các chức vụ quan trọng trong chính quyền xã, huyện... Ngay già Lo Văn Mằn - pho sử sống của bản Văng Môn, những năm trước đây đã từng là Phó Chủ tịch huyện Tương Dương và là một trong những tấm gương điển hình về anh Bộ đội Cụ Hồ, từng được tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý. 

Vào thăm những nếp nhà của người Ơ Đu ở Văng Môn, sự ấm êm của cuộc sống mới như đã khỏa lấp hoàn toàn những phai nhạt về bản sắc. Có phải, đó luôn là những mẫu số chung muôn thuở cho sự bắt đầu lại một cuộc sống mới từ mỗi con người, gia đình cho tới một cộng đồng. Nhiều chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất, đời sống, văn hóa, giáo dục, công tác khuyến nông, khuyến lâm... được triển khai ở những bản người Ơ Đu thời gian qua, đã kéo tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 80% xuống còn 67%.

Hôm chúng tôi đến Văng Môn, cũng nhằm dịp bà con chuẩn bị cúng mừng được mùa. Một không khí rộn ràng lan tỏa, trong mùi thơm nồng nàn của những sân thóc mới vàng hươm trước hiên nhà tái định cư.

he6z_10a-1.jpg
Lớp học tiếng Ơ Đu của thầy Lò Văn Khay là một điểm sáng trong nỗ lực bảo tồn văn hóa Ơ Đu.

Quê xứ bao đợt chuyển dời, bản sắc truyền thống cũng dần phai nhạt theo năm tháng, song người Ơ Đu giờ đây vẫn còn giữ được chút di sản của cha ông. Đó là những lớp học ngôn ngữ Ơ Đu mà cộng đồng ở Văng Môn liên tục mở ra cho các lớp con cháu. Với di sản còn lại chỉ trên dưới 200 từ vựng, sự mất mát văn hóa này không chỉ riêng của người Ơ Đu, mà còn là tổn thất rất lớn trong kho tàng ngôn ngữ các dân tộc Việt Nam. Hết lớp này đến lớp khác, những người tâm huyết như ông Lo Văn Khay vẫn cố gắng hết sức mình truyền thụ lại di sản quý báu -  số từ vựng ít ỏi cho các thế hệ Ơ Đu mai sau.

Bên cạnh đó, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An phối hợp với Viện Nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ Đại học Vinh, đã triển khai đề tài nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ người Ơ Đu ở Tương Dương. Đề tài đã được nghiệm thu, đánh giá xuất sắc, nhưng sẽ còn rất mong manh để đề án ấy thực sự phát huy hiệu quả trong cộng đồng Ơ Đu.
"Để bảo tồn và chấn hưng bản sắc văn hóa miền Tây xứ Nghệ, trong đó có văn hóa của dân tộc Ơ Đu, cần phải có chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Hiện nay, nhiều bản làng đang đói ăn, đói mặc, khó có thể làm được công việc này" - Ông Cao Đăng Vĩnh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An nhận định.

Lịch sử đã đi theo cách riêng của mình. Sự phai nhạt và biến mất của nhiều bản sắc văn hóa đã vượt ra khỏi tầm kiểm soát của con người. Từ những ngày Bồn Man biến mất, không biết bao nhiêu thế hệ người Ơ Đu mới đã lãng quên đi những giai điệu nguồn cội riêng của mình. Tỉnh Nghệ An đã chỉ đạo các cơ quan chức năng và các địa phương xây dựng nhà truyền thống để lưu giữ, bảo tồn các giá trị văn hóa và khôi phục các hoạt động lễ hội của người Ơ Đu.

Song với hiện trạng của dân tộc Ơ Đu hiện nay, thì điều đó thật không dễ dàng gì. Bởi giờ đây, nhìn một trong những đứa trẻ Ơ Đu ngoan hiền trong lời ru của người bà dân tộc Thái Trắng, chúng tôi như thấy cả sự tiếp biến văn hóa đã đi đến tận cùng gốc rễ của người Ơ Đu trên đất Tương Dương. Đời sống vật chất hôm nay có thể đã sung túc hơn, nhưng để làm giàu, hay đúng hơn là phục hưng lại một bản sắc văn hóa của người Ơ Đu vốn có, thì cần hơn cả là bản lĩnh nội tại của chính bản thân họ.
Phạm Vân Anh

Bình luận

ZALO