Biên phòng - Thế nào là câu thơ hay? Thế nào là bài thơ hay? Làm thế nào để viết được câu thơ hay, bài thơ hay?… Đó là những câu hỏi rất khó trả lời. Mấy năm gần đây đã có nhiều bài viết, các cuộc trao đổi, không ít diễn đàn đề cập đến vấn đề này. Điều đó, chứng tỏ vẫn còn nhiều người quan tâm đến thơ chứ không hẳn quay lưng với thơ như có người nghĩ.
Trong thời buổi thơ Việt đang trăn trở, đang tìm đường với nhiều quan niệm, xu hướng khác nhau thì việc xác định câu thơ hay, bài thơ hay càng khó thống nhất. Hiện tượng cùng một bài thơ, người khen khen hết mức, người chê chê hết lời vẫn thường xảy ra. Người chủ trương thơ không vần thì dị ứng người làm thơ có vần và ngược lại. Người thích thơ truyền thống thì dè bỉu thơ hiện đại, cách tân và ngược lại. Người thích thơ bí hiểm, khó hiểu thì khích bác thơ đơn giản, dễ hiểu và ngược lại… Bản thân tôi, có những bài thơ thời trẻ tôi rất thích, bây giờ đọc lại thấy không còn thích nữa. Có những câu thơ trước đây tôi cho là dở, bây giờ ngẫm lại thấy hay... Tôi có tham gia chơi thơ trên Facebook và nghiệm ra rằng: Thưởng thức thơ khá phức tạp, tùy thuộc rất nhiều yếu tố: Lứa tuổi, sở thích, hoàn cảnh, quan niệm, trình độ, quan hệ… Đánh giá, bình phẩm một bài thơ thường mang tính chủ quan, tùy thuộc cái tạng riêng, thị hiếu riêng của từng người.
Với tôi, một câu thơ hay, một bài thơ hay ít nhất phải gây được ấn tượng về một khía cạnh nào đó. Những ấn tượng đó thường in sâu vào trí nhớ, hóa thành máu thịt, hóa thành tâm hồn. Tất nhiên, không phải câu thơ nào, bài thơ nào được nhớ, cũng đều hay, nhưng nếu là hay thì không thể không nhớ. Nhà thơ Xuân Diệu rất thành thật khi bộc lộ mong muốn thơ mình được “nhiều người xem và nhớ lại nhiều ngày”. Viết được một câu thơ hay đã quý, viết được một bài thơ hay càng quý hơn nhiều. Người ta thường gọi cái giây phút viết được câu thơ hay, bài thơ hay là giây phút “xuất thần”, là giây phút “thăng hoa”… Cái giây phút “xuất thần” hay “thăng hoa” ấy phụ thuộc vào tài năng, cảm xúc, hoàn cảnh… của từng người. Đôi khi nó đến một cách hết sức bất ngờ, hết sức ngẫu nhiên như là trời cho vậy. Một câu thơ hay, một bài thơ hay có thể được thai nghén trong một thời gian dài, nhưng lại xuất hiện nhanh như tia chớp, nếu không kịp thời ghi lại sẽ bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng. Thường thì một bài thơ hay được kết nối bởi nhiều câu thơ hay. Cũng không ít trường hợp bài thơ không thật hay, nhưng lại chen vào một vài câu khá hay.
Muốn viết được một bài thơ hay trước hết phải phấn đấu viết được những câu thơ hay. Ca dao và Truyện Kiều sở dĩ được nhiều người thích một phần cũng do có nhiều câu hay. Hai câu ca dao: Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi đã hớp hồn tôi, khi tôi còn là cậu bé đang ngồi trên ghế nhà trường. Cái hình ảnh cô gái thôn quê “múc ánh trăng vàng” cứ ám ảnh tôi mãi. Công việc tát nước bình thường của cô gái, qua “lăng kính” của chàng trai đa tình bỗng trở nên vô cùng lãng mạn. Cái hay của hai câu ca dao này còn ở tính đa nghĩa của nó. Cách đây hơn 20 năm, tôi có quen với một cô sinh viên khoa Văn, Đại học Sư phạm Quy Nhơn. Nàng thường xuyên viết thư cho tôi. Nàng khơi gợi cho tôi nhiều cảm xúc, nhiều tứ thơ mới lạ. Nhưng một hôm, nàng đột ngột báo với tôi rằng: “Vì một lý do tế nhị nên em không thể tiếp tục viết thư cho thi sĩ được nữa…”. Tôi cứ tiếc ngẩn, tiếc ngơ. Bấy giờ, tôi mới thấm thía cái nuối tiếc của chàng trai khi khẽ trách cô gái “sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”. Theo tôi, thơ hay là phải như vậy! Nó lặn sâu vào tiềm thức người đọc và trong một hoàn cảnh tương tự, nó lập tức hiện về.
Hai câu thơ sau đây của Nguyễn Du: Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng… trước đây, tôi cứ nghĩ chỉ là tả cảnh đơn thuần. Vừa rồi, nhân đọc lại Truyện Kiều, tôi mới phát hiện đó chính là tâm trạng của Thúc Sinh trên đường trở về Lâm Tri gặp lại Thúy Kiều. Trong mắt anh chàng si tình lúc này cái gì cũng đẹp, bởi lòng chàng đang vô cùng phấn chấn. Những ai từng đứng trên cầu Dã Viên (Huế) vào buổi chiều tà với tâm trạng sắp được gặp người yêu như chàng Thúc, ngắm nhìn sông Hương, Hoàng Thành và núi Kim Phụng mới cảm nhận hết cái tài “tả cảnh ngụ tình” của thi hào Nguyễn Du.
Trong bài Uống rượu với Tản Đà của Trần Huyền Trân, có hai câu chứa đầy tâm trạng: Rồi lên ta uống với nhau/ Rót đau lòng ấy vào đau lòng này… Tôi từng uống rượu với các bạn thơ không biết bao nhiêu cuộc mà không tài nào viết được những câu thơ chứa đầy tâm trạng như thế. Hai câu thơ “xuất thần” này của Trần Huyền Trân cứ ám ảnh tôi mãi. Và không ít lần, tôi đã mượn hai câu thơ này để gửi gắm nỗi niềm của mình trong những cuộc rượu.
Bài Đêm Côn Sơn của Trần Đăng Khoa có hai câu cực hay: Ngoài thềm rơi cái lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng. Cái hay của hai câu thơ này chủ yếu nằm trong cụm từ: Tiếng rơi rất mỏng. Mỏng là hình chứ không phải là tiếng. Tiếng chỉ nghe bằng tai, chứ không thể nhìn bằng mắt. Trong trường hợp này, thông thường người ta viết: Tiếng rơi rất khẽ như là rơi nghiêng. Nhưng nếu thay mỏng bằng khẽ, thiết nghĩ sẽ không có gì để nói. Câu thơ bình bình như bao câu thơ bình thường khác. Tiếng rơi rất mỏng là Trần Đăng Khoa đã sử dụng sự tương giao giữa thính giác và thị giác. Trước Khoa chưa ai nói tiếng rơi mà lại “rất mỏng” cả.
Trên thi đàn Việt Nam, người viết không nhiều nhưng lại có khá nhiều câu thơ hay, bài thơ hay theo tôi là Hàn Mặc Tử. Trong những bài thơ hay của Hàn Mặc Tử, tôi thích nhất là bài Mùa xuân chín. Mở đầu bài thơ là khung cảnh: Trong làn nắng ửng khói mơ tan/ Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng/ Sột soạt gió trêu tà áo biếc/ Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Mùa xuân về lặng lẽ và êm ái. Âm của các từ “lan”, “tan”, “vàng”, “sang”… vừa đủ để diễn tả bước đi thướt tha, khẽ khàng của mùa xuân. Thi sĩ cảm nhận một cách tinh tế sự biến đổi không gian. Đúng vào thời điểm “khói mơ tan” cũng là lúc “đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng”. Từ láy ”lấm tấm” làm cho màu vàng của những mái tranh cứ hiện dần lên. Hàn Mặc Tử nghe được âm thanh mà người thường ít ai để ý “sột soạt gió trêu tà áo biếc trên giàn thiên lý”. Trong cái khung cảnh mùa xuân tràn đầy sức sống, xuất hiện “bao cô thôn nữ hát trên đồi”. Họ đang hát một cách say sưa. Thi sĩ vừa nghe, vừa nhìn, vừa cảm: Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi/ Hổn hển như lời của nước mây/ Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc/ Nghe ra ý vị và thơ ngây. Ở đây có sự hòa hợp giữa mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu. Các cô thôn nữ tươi trẻ đang hát những bài hát về tình yêu trong một không gian mùa xuân thật thoáng đãng. Đó là mùa xuân đang xanh. Nhưng mùa xuân xanh qua đi rất nhanh: Khách xa gặp lúc mùa xuân chín/ Lòng trí bâng khuâng chợt nhớ làng/ Chị ấy năm nay còn gánh thóc/ Dọc bờ sông trắng nắng chang chang… Phải đọc đi đọc lại nhiều lần ta mới phát hiện được những nét tương phản của hai bức tranh. Một bên “sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”, còn bên kia “dọc bờ sông trắng nắng chang chang”. Cái xanh tươi của cỏ đối lập với cái chang chang của nắng. Một bên “bao cô thôn nữ hát trên đồi”, còn bên kia “chị ấy năm nay còn gánh thóc”. Một bên còn xuân xanh, một bên đã qua thời tuổi trẻ. Bên thì đông vui, bên thì lặng lẽ một mình. Từ hình ảnh Chị ấy năm nay còn gánh thóc/ Dọc bờ sông trắng nắng chang chang mà Hàn Mặc Tử ngậm ngùi cho bao cô thôn nữ ở trên kia: Ngày mai trong đám xuân xanh ấy/ Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi! Đó là quy luật không ai có thể cưỡng được. Thi sĩ biết vậy mà vẫn tiếc thầm cho họ và cả thầm tiếc cho mình, tiếc cho cái tuổi thanh xuân một đi không bao giờ trở lại.
Trong kho tàng thi ca Việt Nam vẫn có những bài hay mà khó tìm được câu thơ hay, chẳng hạn như trường hợp bài ca dao sau đây: Anh nói em cũng nghe anh/ Bát cơm lỡ đã chan canh mất rồi/ Nuốt vào đắng lắm anh ơi/ Nhả ra thì để tội trời ai mang. Cả bài rất khó tìm được câu nào thật đặc sắc. Nhân vật trữ tình tâm sự với người yêu về hoàn cảnh oái oăm của mình. Lời thơ chân chất, thật thà, bình dị như lời ăn tiếng nói hàng ngày. Ở bài ca dao này chẳng có yếu tố “tân hình thức” nào, cũng chẳng có yếu tố “siêu thực” nào, thế mà bao nhiêu người đồng cảm, bao nhiêu người nhớ, bao nhiêu người thuộc. Cứ mỗi lần rơi vào tình trạng “tiến thoái lưỡng nan”, tôi lại tìm đến với 4 câu ca dao mộc mạc này. Thế mới biết, thơ hay thường rất nhiều vẻ, khó lòng khái quát cho thật đầy đủ bằng những tiêu chuẩn cứng nhắc. Đã là thơ hay thì dù số phận có chìm nổi, lao đao đến mấy đi nữa, cuối cùng cũng được mọi người thừa nhận (Màu tím hoa sim của Hữu Loan là một minh chứng), còn những bài thơ “dổm”, dù được tung hê lên tận mây xanh, không chóng thì chầy cũng sẽ tan thành tro bụi.






