Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 09:29 GMT+7

Tự hào Ô Tà Sóc

Biên phòng - Ô Tà Sóc có nghĩa là suối ông Sóc, thuộc dãy núi Dài, vùng Thất Sơn huyền bí, ấp An Ninh, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn. Đây là điểm cao hiểm trở với nhiều hang động, vách đứng cheo leo. Vì vậy, nơi đây từng là căn cứ cách mạng của Tỉnh ủy An Giang trong những năm kháng chiến chống Mỹ.

 6168a.gif
Khu di tích lịch sử Ô Tà Sóc.

Ô Tà Sóc là một vùng sơn lâm hiểm trở. Từ năm 1962-1967, nơi đây là căn cứ cách mạng của Tỉnh ủy An Giang, có các cơ quan trực thuộc: Quân sự, an ninh, binh vận, dân vận, mặt trận, tuyên huấn, tổ chức, kiểm tra và các đoàn thể nông dân, thanh niên, phụ nữ. Với hệ thống hang động và đường mòn nối liền các cơ quan từ bụng ông Địa (Tổ giao liên Tỉnh ủy) đến ô Vàng (Ban an ninh, binh vận, đài binh ngữ), vồ Út Mươi (Ban Chỉ huy Quân sự tỉnh) có bán kính gần 3km mà tâm điểm là Điện Trời Gầm, nơi đặt cơ quan Tỉnh ủy.

Từ căn cứ địa này, Tỉnh ủy An Giang đã chỉ đạo quân và dân trong tỉnh tấn công, tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn lực lượng vũ trang thổ phỉ ở vùng rừng núi và ven biên giới, mở rộng vùng giải phóng và căn cứ kháng chiến; kiên cường đấu tranh phá tan hệ thống "ấp chiến lược" và "kế hoạch bình định", góp phần đánh bại "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ, ngụy.

Thắng lợi đấu tranh vũ trang, chính trị và thành quả cách mạng đạt được trong thời gian này đã củng cố vững chắc vùng giải phóng và xây dựng lực lượng vũ trang 3 thứ quân, lực lượng cách mạng trong vùng địch, chuẩn bị điều kiện cho thời cơ mới. Khi Tỉnh ủy và các cơ quan rời đi nơi khác, Ô Tà Sóc là căn cứ dự phòng của tỉnh và được các đơn vị như Phân ban Tỉnh ủy, Ban Chỉ huy tiền phương cùng lực lượng vũ trang tỉnh, huyện và bộ đội chủ lực miền tiếp tục bám trụ, chiến đấu oanh liệt, đương đầu với hơn 360 trận càn quét lớn nhỏ, kèm theo phương tiện chiến tranh và vũ khí hiện đại của Mỹ, ngụy.

 Tại căn cứ Ô Tà Sóc, quân và dân ta đã tiêu diệt hàng trăm tên địch, phá hỏng nhiều phương tiện chiến tranh, giữ vững căn cứ. Nhiều cán bộ, chiến sĩ và đồng bào đã anh dũng hi sinh. Tỉnh An Giang và 2 huyện Tịnh Biên, Tri Tôn được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang, trong đó có phần đóng góp quan trọng của những người có mặt ở Ô Tà Sóc trong những năm kháng chiến oanh liệt này. Sự hi sinh anh dũng của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân An Giang tại Ô Tà Sóc được ca ngợi bằng những những khúc ca, áng văn, thơ đầy cảm kích, chẳng hạn:

Chiều nay bên dốc núi

Tôi lặng lẽ cúi đầu

Thương những người chiến sĩ

Nằm lại dưới hang sâu.

... Nay suối rừng vẫn chảy

Rừng xanh thêm từng ngày

Hồn người trong hang lạnh

Vẫn như còn đâu đây...

(Trích "Ở lại Ô Tà Sóc", thơ Trần Quang Mùi)

Để đến Ô Tà Sóc, một Di tích lịch sử cấp quốc gia, chúng tôi phải đi qua đoạn đường mòn được trải nhựa quanh co men theo địa hình rừng núi. Xung quanh là những rừng tầm vông, xoài, mít, chuối, đào lộn hột... tỏa bóng mát rượi và tiếng chim ríu rít giữa không gian tĩnh lặng của núi rừng. Chúng tôi được anh Huỳnh Văn Bê, "dân thổ địa" chỉ dẫn miễn phí đi tham quan hang động. Đường dẫn lên hang dài khoảng 300m, đã được xây thành bậc thang bám theo triền núi quanh co, bên cạnh là con suối nước chảy róc rách. Có đến Điện Trời Gầm, hang Quân y, hang Hậu cần, hang Phụ nữ... du khách mới được tận mắt chiêm ngưỡng sự kỳ vĩ, huyền bí như chốn mê cung của hệ thống hang động. Vì vậy, trên bức tường hang động đều vẽ mũi tên chỉ đường và đánh số thứ tự, tên từng hang bằng sơn đỏ. Anh Bê vừa đi vừa chỉ dẫn như một hướng dẫn viên du lịch. Đến khu vực hang nào anh cũng nói rất cụ thể, tỉ mỉ giúp chúng tôi hiểu tường tận về lịch sử của căn cứ Ô Tà Sóc.

Anh Bê dẫn chúng tôi lên đỉnh núi. Đứng trên đỉnh núi, phóng tầm mắt ra xung quanh mới thấy hết được sự tươi đẹp, hùng vĩ của thiên nhiên. Bức tranh thủy mặc hiện ra, trước mắt chúng tôi là nhà cửa, cây cối, ruộng nương tốt tươi, xanh mướt, cùng những con đường quanh co chạy xuyên qua những hàng cây trái như những mạch máu nối liền nhau đầy sức sống.

Tạm biệt Ô Tà Sóc, trên đường về, chúng tôi gặp những bác nông dân đang đánh xe bò chở hàng, các cô gái Khmer gánh rau, trái cây từ trên rẫy về. Người dân nơi đây sống trầm lắng, yêu lao động, chí thú làm ăn, rất mực yêu thương nhau và họ luôn tâm niệm một điều: Phải sống thật vững vàng, thật tốt để tiếp nối truyền thống vẻ vang, xứng đáng với thế hệ cha anh đi trước, những người đã ngã xuống cho ngọn núi này sừng sững hiên ngang, tươi đẹp.

Chiến Khu

Bình luận

ZALO