Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 06:46 GMT+7

Tư Hổ - Người chỉ huy an ninh vũ trang B5 nức tiếng

Biên phòng - Sau chiến dịch Xuân Mậu Thân năm 1968, phải rút ra khỏi thành phố, chính quyền Việt Nam cộng hòa huênh hoang: "Không còn một bóng dáng cộng sản nào trong lòng Sài Gòn". Nhưng không lâu sau, luận điệu đó đã bị đập tan, bởi những tiếng nổ dữ dội trong đô thành Sài Gòn do các chiến sỹ đội B5 trinh sát vũ trang, thuộc An ninh T4 khu Sài Gòn, Gia Định tiến công các căn cứ của địch.

Đó là trận mở màn vào hồi 9 giờ ngày 1- 2-1969, mưu sát tên trung tướng tình báo Linh Quang Viên, tổng trưởng nội vụ, phụ tá an ninh của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Chỉ với vũ khí thô sơ là những trái mìn tự tạo bằng ống sữa bò khô, trọng lượng khoảng 1,5kg thuốc nổ C4, các trinh sát B5 đã giật nụ xòe và ném vào chiếc xe 4 chỗ chở Linh Quang Viên và hai xe jeep hộ tống. Những tiếng nổ lớn đó đã làm cho bọn địch không kịp trở tay, hai trong số ba chiếc xe ô tô bị phá hủy.

Ngay hôm sau, trên hầu hết các tờ báo ở Sài Gòn đều giật tít, mô tả chi tiết về vụ nổ kinh hoàng. Khi ấy, các chiến sĩ Đội trinh sát vũ trang B5 mới hay, viên tướng trong chiếc xe 4 chỗ màu đen không phải là Linh Quang Viên mà là tướng hai sao Nguyễn Văn Kiểm, đang giữ chức tham mưu trưởng biệt bộ phủ tổng thống. Lúc đó, cả nhóm B5 đều băn khoăn vì vụ "tử hình hụt" đối tượng. Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu hồ sơ, An ninh T4 đánh giá, vụ "tử hình" đã không tiêu diệt nhầm.

Bởi vào thời điểm ấy, Nguyễn Văn Kiểm đang được chọn là đối tượng sẽ thay Linh Quang Viên giữ chức bộ trưởng bộ nội vụ. Có nghĩa, Kiểm sẽ chỉ huy chiến dịch Phượng Hoàng nhằm bắt sống những cán bộ cao cấp của ta đang hoạt động trong nội thành. Như vậy, những ồn ào, gây chấn động của vụ diệt trừ tướng Kiểm đã phá tan không khí tĩnh lặng trên chiến trường miền Nam, trở thành sự kiện đầu tiên, kể từ sau chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968, mở màn cho hàng loạt cuộc tấn công sau đó, góp phần vào chiến thắng 30-4, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Tiếng nổ rung chuyển giữa ban ngày, ngay trong nội đô lúc đó, không chỉ bịt miệng, gây hoang mang cả hệ thống ngụy quyền Sài Gòn, mà còn làm nức lòng nhân dân thành phố, củng cố thêm niềm tin đối với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ngồi kể cho chúng tôi nghe về chiến công hiển hách ấy là Thiếu tá Nguyễn Văn Lệnh (biệt danh Tư Hổ), Chỉ huy phó B5 trinh sát nội đô, Tham mưu trưởng An ninh vũ trang Sài Gòn-Gia Định. Trước đây, Nguyễn Văn Lệnh là Thiếu tá Công an nhân dân vũ trang (nay là BĐBP), đã trực tiếp chế tạo những trái mìn và chỉ huy trận đánh kinh hoàng đó. Đôi mắt của người lính già trên chiến trường năm xưa bỗng rực sáng, khi nhắc lại những ký ức về hành trình thâm nhập và bám trụ nội đô, một hành trình đầy kỳ tích, tưởng như không "khả thi" với thân hình nhỏ bé và gầy guộc của ông. 

Ngày ấy, cách đây tròn 50 năm, theo tiếng gọi của Tổ quốc, Thượng úy Công an nhân dân vũ trang Nguyễn Văn Lệnh cùng hơn 60 đồng đội hành quân ròng rã 3 tháng trời, vượt rừng Trường Sơn vào chi viện cho chiến trường miền Nam. Cũng trong hành trình Nam tiến đầy gian khổ ấy, biệt danh Tư Hổ mà đồng đội đặt cho ông, đã được truyền tai nhau như một chiến binh đầy ý chí và tinh thần quả cảm hiếm thấy.

Trước đó, ông Lệnh cũng đã nức tiếng bởi chỉ trong một năm, ông đã phá chuyên án bọn phản động lưu vong lợi dụng đồng bào dân tộc Thái lôi kéo người dân tộc thiểu số chống lại cách mạng ở xã biên giới Quang Chiểu, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Bởi vậy, khi vào Sài Gòn, Tư Hổ cùng 3 đồng đội được tin tưởng điều về B5 trinh sát vũ trang nội đô, thuộc An ninh T4, với nhiệm vụ chỉ huy một đội trinh sát đánh bọn đầu sỏ ngụy quân, ngụy quyền.

Hồi đó, B5 chưa có chân rết, nên hành trình thâm nhập nội đô của Tư Hổ bắt đầu bằng việc gây dựng cơ sở. Nhớ lại cảm giác lần đầu tiên bước chân vào Sài Gòn ngày ấy cùng với nhiệm vụ được giao khá nặng nề, ông Lệnh đã có lúc cảm thấy lo lắng. Nhưng với máu trinh sát ngấm vào da thịt nên cảm giác đó với ông cũng qua nhanh. Tư Hổ nhanh chóng vận dụng nghiệp vụ trinh sát từ thời kỳ hoạt động trong kháng chiến chống Pháp: "Muốn đánh được, phá được thì phải trụ được. Muốn vậy, phải bỏ hết tác phong sinh hoạt cũ, phải hòa mình, nhập vai như một người dân địa phương thực thụ".

Vậy là sau hàng tháng trời "lăn xả" vào cuộc sống, cùng ăn, cùng ngủ với những người ăn mày, người mù, người bị bệnh hủi nơi ngõ chợ, bến tàu, bến xe, tìm cách làm quen, kết thân với anh em xích lô để vừa làm kế sinh nhai, vừa để quan sát, biết đường đi lối lại ở nội thành Sài Gòn, lại còn phải ăn hủ tiếu, bánh canh, hột vịt lộn y chang một người Sài Gòn, Tư Hổ mới tin mình có thể trụ lại được ở nơi này.

jf6v_48a-1.JPG
Ngày họp mặt của đồng đội B5 trinh sát vũ trang nội đô quả cảm.
 
Trong lúc mọi việc đang diễn ra bình thường thì bất ngờ, trong một lần trên đường trở về thành để báo cáo với Ban chỉ huy B5, Tư Hổ bị bọn biệt kích phục bắt. Chúng đưa ông về giam cầm ở Bình Dương với tội danh cán bộ kinh tài cộng sản. Từ đây, giai đoạn thử thách, cam go nhất của hành trình thực thi nhiệm vụ đặc biệt mới thực sự bắt đầu, cũng là giai đoạn minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần cách mạng và ý chí quả cảm của Tư Hổ.

Kể về những đòn tra tấn dã man hơn thời trung cổ suốt mấy tháng trời ấy, ông Lệnh bảo, tưởng như không thể sống nổi. Nhưng lúc đó, trong ông, khí tiết và lời nói của Bác Hồ cứ văng vẳng bên tai "lửa thử vàng, gian nan thử sức" và Tư Hổ nghĩ, chỉ có hai con đường, một là sống để tiếp tục đánh Mỹ-ngụy cứu nước, hai là chết, mà khai báo cũng chết, đằng nào cũng chết, nên kiên quyết không khai. Bởi xác định rõ quan điểm, lập trường vững vàng như vậy, nên sau 6 tháng không khai thác được gì, Tư Hổ được thả nhưng vẫn bị cầm chân ở Bình Dương hơn 2 năm sau đó.

Cầm giấy trả tự do, khi đó là vào cuối năm 1968, sau chiến dịch Xuân Mậu Thân, Sài Gòn tan hoang xơ xác, các đơn vị bộ đội, các cơ quan phải lánh sang nước ngoài, chỉ gài lại một số bám đất, bám dân; cơ sở không có, người nhà, bà con cũng không, Tư Hổ không biết đi đâu, về đâu. Lúc dó, ông lại nhớ đến lời huấn thị của Hồ Chủ tịch "Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng quyết giành lấy tự do độc lập". Tư Hổ lại bước vào hành trình tìm đơn vị với nhiều gian nan, vất vả, thậm chí nguy hiểm, bởi lẽ, trên chặng đường rừng sang Cam-pu-chia ấy, mìn của Mỹ-ngụy, mìn của bộ đội, du kích giăng mắc khắp nơi; đi ban ngày thì đủ loại máy bay đe dọa,  nhưng cuối cùng ông cũng tìm lại được đồng đội trong niềm xúc động khôn tả.

Bây giờ ngồi ngẫm lại chặng đường đã qua, ông Lệnh nói, có lẽ chỉ có tấm lòng kiên trung với đất nước, với tư tưởng của Bác Hồ, mới đem lại cho ông một nghị lực phi thường, vượt lên trên mọi gian khổ, hy sinh ấy. Có những việc tưởng như không tưởng, như việc ông tiếp tục nhận được chỉ thị mới của An ninh T4 sau một tháng gặp lại đơn vị: Trở về Sài Gòn, củng cố đơn vị Trinh sát vũ trang nội đô; mua nhà, cải tạo nhà, đào hầm bí mật chứa vũ khí, chuẩn bị cho những trận đánh lớn vào sào huyệt của địch. Khi đó, cùng với ông Ba Hiệp, Trưởng B5, hai ông tìm cách củng cố đơn vị với rất nhiều bộn bề sau tổn thất của chiến dịch Xuân Mậu Thân.

Sau khi mua được căn nhà số 116.2, ấp Phú Trung 3, xã Phú Thọ Hòa, quận Tân Bình, Tư Hổ bắt tay cải tạo và xây hầm bí mật chứa vũ khí. Do yêu cầu bảo mật chỉ làm có một mình, nên Tư Hổ đề ra thời gian biểu làm việc lúc đó là "không giờ, không ngày, không đêm", làm đến khi mệt thì ngủ, dậy lại làm tiếp. Sau khi có nhà, có hầm, việc chuyển vũ khí từ căn cứ vào cũng đòi hỏi nhiều sáng kiến, phương thức vận chuyển linh hoạt, làm thế nào để vượt qua rất nhiều trạm kiểm soát hoạt động chặt chẽ 24/24 giờ với công an, mật vụ, cảnh sát, lính Mỹ-ngụy và mạng lưới do thám dày đặc. Tư Hổ phải dành thời gian đi khảo sát tình hình, quan sát những người dân chở hàng qua các trạm kiểm soát của địch và ngụy trang vũ khí bằng những cách sáng tạo để bảo đảm an toàn.

Thông thường, trước khi chở vũ khí vào thành, bản thân ông đã cho chở thử những thứ hàng đó. Sau khi vũ khí qua trạm kiểm soát trót lọt và đổ ở bến xe, Tư Hổ nghĩ cách chuyển vào kho. Với sức vóc nhỏ bé của người lính trinh sát nội đô khi ấy, không hề cân xứng với số vũ khí nặng hơn 2 tạ, đòi hỏi ông phải tiếp tục nghiên cứu, vận dụng nhiều sáng kiến để hoàn thành nhiệm vụ. Ngay cả cái việc quan trọng nhất là kết cấu trái nổ, một việc tưởng như quá sức đối với một người như ông, không có chuyên môn về các loại chất nổ và các loại mìn.

Ông lại tiếp tục những ngày rong ruổi khắp phố phường, thâm nhập vào đời sống sôi động của thị thành. Cũng từ những lần quan sát đó, cùng với những ngày đêm miệt mài dưới hầm, những trái mìn được làm từ những nguyên liệu giản đơn của đời thường như ống sữa bò khô, hộp sơn, bình ắc-quy đã ra đời, tạo nên những tiếng nổ làm rung chuyển Sài Gòn.

Vậy là ước mơ, hoài bão của Tư Hổ là được chở cả kho vũ khí đánh vào sào huyệt địch, từ thời còn làm trinh sát ở Trung đoàn 238, thời kỳ đánh Pháp, đã trở thành hiện thực. Những tiếng nổ của B5, đơn vị chiến đấu duy nhất vào thời điểm ấy, còn trụ lại được ở Sài Gòn trở nên vang dội, báo đài thế giới đưa tin, cả báo chí Mỹ cũng không còn huênh hoang tuyên bố: Sài Gòn không còn một bóng Việt cộng. Cũng từ đó, cục diện của chiến trường miền Nam kể từ sau chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968 đã thay đổi, những tên đầu sỏ ngụy quân, ngụy quyền phải hoạt động cầm chừng.

Tuy nhiên, sau một vụ tập kích không thành, ngôi nhà chứa vũ khí bị lộ, Tư Hổ buộc phải lui về căn cứ, nhưng vẫn tiếp tục nhiệm vụ chế tạo trái nổ và cử đồng đội cải trang mang vào thành tiếp tục chiến đấu. Đến năm 1972, do điều kiện sức khỏe, Tư Hổ được chuyển ra Bắc điều dưỡng, kết thúc chặng đường hoạt động đầy gian khổ, khó khăn, nhưng cũng thật vinh quang.

Trở về từ cuộc chiến, với quân hàm Thiếu tá Công an nhân dân vũ trang, ông vẫn không hề nghỉ ngơi. Hơn 30 năm qua, ông tiếp tục bắt tay vào một công việc mới mẻ, đầy duyên nợ: Tìm hài cốt liệt sĩ. Ý tưởng nhân văn ấy đã được ông nung nấu, ấp ủ ngay từ những ngày đầu tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. "Đồng đội, anh em hy sinh nhiều quá, trẻ quá. Trên bờ, dưới sông đều có anh em mình hy sinh. Tôi muốn trả về cho gia đình liệt sĩ một chút hơi ấm của các anh...", ông Lệnh chia sẻ về công việc của mình như vậy. Và trên chặng đường ấy, ông đã đem tin vui đến cho hàng trăm gia đình, đưa hàng ngàn hài cốt về nghĩa trang liệt sĩ.

Người lính chiến trường năm xưa giờ đã bước sang tuổi 85, vẫn luôn nghĩ đến người vợ yêu quý đã đi xa. Tưởng như, sau những tháng ngày triền miên xa cách bởi chiến tranh, bà và các con đã có thể cùng ông quây quần, sum họp, nhưng ông lại tiếp tục đi theo tiếng gọi của đồng đội, của một miền ký ức đi tìm hài cốt liệt sĩ vài ba tháng, thậm chí vài năm. Có lần bà bị ốm nặng, trong khi ông đang tìm hài cốt trong Nam. Gọi điện hỏi thăm, thì bà lại hỏi ông: "Thế ông đã tìm được chưa?". Ông bảo rồi. Bà nói: "Khi nào tìm được thì ông hãy ra nhé, chưa tìm được thì khoan hãy ra".

Những ân tình của người vợ đã quá cố, ông cứ nhớ mãi trong lòng. Để rồi, những tháng ngày thiếu vắng bà, ông vẫn một mình rong ruổi trên chiếc xe đạp tiếp tục hành trình tri ân đồng đội trên khắp mọi miền đất nước. Hành trình ấy cho đến nay, với hơi ấm của bà, chưa khi nào kết thúc...
Khánh Ngọc

Bình luận

ZALO