Biên phòng - Đường Trường Sơn, gạch nối hậu phương lớn với tiền tuyến lớn thời chống Mỹ là con đường huyền thoại của dân tộc ta trong thế kỷ 20. Con đường mang tên Bác đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước cao cả với những kỳ tích và hi sinh không thể nào kể xiết. Mười sáu nghìn cây số đường ngang dọc tỏa khắp núi rừng Trường Sơn trùng điệp là một công trình vĩ đại cũng là nguồn cảm xúc dào dạt của thơ ca thời ấy.
Thời chiến tranh chống Mỹ, số nhà thơ viết về Trường Sơn thật đông đảo. Từ những ngôi sao của phong trào "Thơ mới", đến các nhà thơ cách mạng tiền Khởi nghĩa, tới thế hệ thi sĩ chống Pháp, chống Mỹ, nhiều người viết về Trường Sơn. Tuy nhiên, lực lượng nhà thơ viết nhiều và có thành tựu nhất về Trường Sơn vẫn là thế hệ cầm bút thời chống Mỹ. Nhân đây, xin được sơ bộ điểm danh những tên tuổi và tác phẩm của họ.
Đó là: Đặng Tính với Qua đèo 700, Xe đi trên Trường Sơn, Thuyền chiến trên sông cao nguyên, Phạm Ngọc Cảnh với Cơm chiều Binh trạm, Thanh Hải với Dấu võng Trường Sơn, Giang Nam với Đất mùa xuân, đất tiến quân, Ngô Văn Phú với Một người anh hùng, Thu Bồn với Canh Trường Sơn, Liên Nam với Đi trên đường Hồ Chí Minh, Nam Hà với Kỷ niệm, Nguyễn Khoa Điềm với Bếp lửa rừng…, Hoàng Phủ Ngọc Tường với Tôi đi trên những con đường rừng cũ…, Bằng Việt với Trên đường mang tên Bác, Vũ Quần Phương với Những câu thơ trong đêm…, Anh Ngọc với Khoảng đất dưới võng…, Nguyễn Đức Mậu với Hành quân thần tốc, Khúc hát ở rừng…
![]() |
| Đường Trường Sơn đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận trong thơ ca cách mạng Việt Nam. Ảnh: CTV |
Trường Sơn anh hùng - Trường Sơn lãng mạn; đó là những gì tôi cảm nhận được từ những bài thơ viết về vùng đất Trường Sơn Đông nắng, Tây mưa/Ai chưa đến đó, như chưa rõ mình (Tố Hữu - Nước non ngàn dặm).
Hiện thực cuộc sống đậm chất huyền thoại và anh hùng ca là mảnh đất màu mỡ cho thơ tỏa sáng. Núi rừng, con đường, người lính lái xe, bộ binh, pháo binh…cô giao liên, cô thanh niên xung phong bước vào thơ thật đậm nét. Thơ cho ta những hình dung khá rõ về cuộc sống chiến đấu, lao động ở Trường Sơn thời ấy. Đó là một Trường Sơn hoành tráng, phi thường như nhiều nhà thơ ca ngợi. Khi lý tưởng cao đẹp thấm nhuần và trở thành sức mạnh tinh thần thì tâm hồn con người trong sáng hơn: Con suối gặp bom/ Con suối đục ngầu/ Con người gặp bom/ Con người trong suốt (Trọng Khoát - Niềm vui bám trụ).
Viết như thế không dễ được thấu hiểu, chia sẻ và đồng cảm ở thời nay, cũng như người ta đã từng nghi ngờ tính chân thực câu thơ Đường ra trận mùa này đẹp lắm của Phạm Tiến Duật, nhưng tôi tin các nhà thơ thế hệ chống Mỹ không hề "lừa dối" ta. Họ, nhận ra bản chất của cuộc chiến tranh chính nghĩa, mà sự dấn thân quả cảm và lòng lạc quan của người lính là tấm gương thiêng soi lọc phẩm hạnh con người như Trần Trung Hiếu đã viết: Ta cắt tóc cho nhau/ Mảnh gương con không có/ Chính đồng đội là gương/ Soi thấy mình trong đó (Cắt tóc).
Trường Sơn in dấu chân hàng triệu người ra trận, từ thuở đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng đến mùa xuân 1975 hành quân thần tốc giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu: Nước chưa kịp nấu bi đông cạn/Ngầm rộng: xe đi chậm đội hình/ Ta múc sông mời nhau uống tạm/ Mũ cối chuyền tay tôi với anh (Nguyễn Đức Mậu - Hành quân thần tốc). Trường Sơn tỏa sáng với hình ảnh rất đẹp của các cô giao liên, cô thanh niên xung phong: Em nhỏ xíu như cây nứa tép/ Và mong manh như một chấm nắng thu/ Em nhìn từ sau chỉ thấy chiếc ba lô/ Một nhành lá cũng làm em chậm bước (Nguyễn Mỹ - Hơi ấm đường rừng); Mấy năm rồi chạy trên tuyến Trường Sơn/ Có đêm nào như đêm nay nhớ mãi/ Những cọc tiêu là những cô em gái/ Thanh thản đứng bên đường trọng điểm xe lên (Trần Nhật Thu - Cái điểm sáng ấy)...
Đặc biệt, bài Khoảng trời hố bom của Lâm Thị Mỹ Dạ đã nâng hình tượng cô gái thanh niên xung phong lên một tầm cao mới lung linh ánh sáng nhân văn: Em nằm dưới đất sâu/ Như khoảng trời đã nằm yên trong đất/ Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng/ Những vì sao ngời chói lung linh/ Có phải thịt da em mềm mại trắng trong/ Đã hóa thành những vầng mây trắng/ Và ban ngày khoảng trời ngập nắng/ Đi qua khoảng trời em/ Vầng dương thao thức…
Cuộc sống bước vào thi ca thật giản dị tự nhiên, hay hiện thực ấy đã mang chất thơ đích thực rồi: Nơi tắt lửa là nơi dài tiếng hát/Đoàn thanh niên xung phong phá đá sửa đường/Dẫu hố bom kề bên còn bay mùi khét/Tóc lá sả đâu đó vẫn bay hương/Đêm tắt lửa trên đường/Khi nghe gần xa tiếng bước chân rậm rịch/Là tiếng những đoàn quân xung kích/Đi qua (Phạm Tiến Duật - Lửa đèn). Cái sự tự tin, đĩnh đạc pha chút ngang tàng của những lái xe Trường Sơn được Phạm Tiến Duật đưa vào thơ rất sinh động: Không có kính không phải vì xe không có kính/Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi/Ung dung buồng lái ta ngồi/Nhìn đất nhìn trời, nhìn thẳng/Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng/Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim/Thấy sao trời và đột ngột cánh chim/Như sa như ùa vào buồng lái/Không có kính, ừ thì có bụi/Bụi phun tóc trắng như người già/Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc/Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha (Bài thơ về Tiểu đội xe không kính)...
Nói đến thơ Trường Sơn, không thể không nói đến Phạm Tiến Duật. Có thể nói, Phạm Tiến Duật là một hiện tượng của thơ Trường Sơn và thơ chống Mỹ. Nếu không có những bài thơ về Trường Sơn của anh, chắc chắn thơ chống Mỹ sẽ thiếu đỉnh, sẽ không tạo được âm vang dài rộng và mới mẻ. Trong dàn thơ chống Mỹ, Phạm Tiến Duật nổi lên như một người lĩnh xướng, có sức hút kỳ lạ đối với công chúng và cả với bạn sáng tác.
Sinh ra trong khói lửa đạn bom, từng phút từng giây đối mặt với mất mát hy sinh, điều rất kỳ lạ là thơ chống Mỹ nói chung và thơ Trường Sơn nói riêng vẫn rất yêu đời và lãng mạn. Tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống đã nâng cánh cho không ít bài thơ bay bổng. Chất trữ tình làm cho những bài thơ cổ động không còn khô khan và ta nhận ra trong đó chiều sâu tâm hồn dân tộc cũng như văn hóa Việt Nam.
Từ Lửa đèn mà Phạm Tiến Duật rưng rưng suy ngẫm về nguồn cội và sức sống dồi dào của dân tộc: Trên đất nước đêm đêm/Sáng những ngọn đèn/Mang lửa từ nghìn năm về trước/Lấy từ thuở hoang sơ/Giữ qua đời này đời khác/Vùi trong tro trong trấu nhà ta. Ôi ngọn lửa đèn/Có nửa cuộc đời ta trong ấy! Và, Trường Sơn thuở ấy đâu chỉ có đạn bom chết chóc, tro bụi, mà còn có những thời khắc nên thơ, như là những minh chứng đẹp đẽ cho tâm hồn người lính. Nói đến thơ Trường Sơn, cũng cần phải nhắc tới các nhà thơ Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Thúy Bắc... những nét thơ tươi trẻ nhưng cũng đầy chiêm nghiệm, lạc quan...
Mạch thơ Trường Sơn vẫn được tiếp nối cho đến hôm nay, khi đất nước không còn bom rơi đạn nổ, đường Hồ Chí Minh thành con đường hiện đại của thời công nghiệp hóa. Trường Sơn trận mạc vẫn còn ám ảnh trong thơ và trường ca của Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Duy, Vương Trọng, Nguyễn Đức Mậu, Lê Thị Mây... Thơ Trường Sơn được bổ sung thêm những phần bi thương, tâm linh, những góc khuất của cuộc đời số phận người lính và người thân của họ.
Trên con đường dài dựng nước và giữ nước của dân tộc, năm 1975 là một mốc son chói lọi. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã toàn thắng khi lá cờ giải phóng tung bay phấp phới trên Dinh Độc Lập ở Sài Gòn vào trưa 30 tháng 4 năm ấy. 40 năm đã đi qua, thế mà những ai đã trải qua tháng ngày ấy bây giờ nhớ lại vẫn không khỏi bồi hồi xúc động. Hình như âm hưởng mùa xuân đại thắng vẫn còn đâu đây.
Vâng, vẫn còn đó tấm bản đồ Việt Nam đỏ thắm những mũi tấn công như vũ bão và những vùng đất giải phóng thay đổi từng ngày, từng giờ. Vẫn còn đó tin thắng trận dồn dập từ miền Nam bay về. Vẫn còn đó niềm vui vỡ òa, nụ cười rạng rỡ và giọt nước mắt lóng lánh trên gương mặt bao người.
Vâng, vẫn còn đây những vần thơ dạt dào âm hưởng toàn thắng cuốn theo bước chân anh giải phóng quân và hòa trong nắng gió phương Nam. Những bài thơ cuồn cuộn hào khí thần tốc, rạo rực niềm vui chiến thắng còn để lại cho con cháu hôm nay những hình dung hoành tráng về mùa xuân đại thắng 1975. Hầu như nhà thơ thế hệ chống Mỹ nào cũng có thi phẩm viết về sự kiện này với sự cộng hưởng rất lớn của thế trận thần tốc, táo bạo và không khí tưng bừng hân hoan của ngày chiến thắng.
Với niềm tin tất thắng son sắt ấy, trong trận đánh cuối cùng quân và dân ta đã làm nên một cơn lốc hùng vĩ. Khí thế ào ạt đó đã tràn cả vào thơ Phạm Tiến Duật: Khi lên xe ta chưa quen nhau/Lúc xuống xe ta đã thành bè bạn/Ta tựa lưng vào bốn năm tấn đạn/Chúng ta đi đường dài/Mấy trăm xe và mấy trăm người/Nhằm mặt trận tiến vào như cơn lốc/Những trái tim xếp theo hàng dọc/Suốt đường dài hồi hộp biết bao nhiêu (Chim Lạc bay).
Vốn là một người lính thiết giáp, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa tài hoa, vừa nhạy cảm đã dựng thành công chân dung người chiến sĩ trong chiến dịch mang tên Bác với một chiều sâu tâm hồn rất trung thực và cảm động:
Chiến dịch này ăn cơm không phải độn/ Mừng thì mừng mà thương mẹ bao nhiêu/ Ngày mai chúng ta đánh trận cuối cùng/ Đêm còn lạnh ở ngoài ta đấy bạn/ Ngoài ta độ nay đang giáp hạt/ Cây rơm gầy xay giã cũng thưa đi/ Ngày mai chúng ta đánh trận cuối cùng/ Một nửa nhân dân ngày mai ta nhận mặt/ Nhân dân trở về từ bên kia mặt trăng/ Lại vằng vặc những bến bờ thương nhớ (Đường tới thành phố).
Trước ngày 30 tháng 4 lịch sử là những cuộc chuyển quân rậm rịch, là một đêm đợi chờ hồi hộp: Anh đang ở bên này thành phố/ Cách một mệnh lệnh/ Cách một trận đánh/ Cách một cây cầu/ Cách một đêm nay.../ Thành phố càng gần/ Càng không dám nghĩ nhiều đến mẹ/ Phải cố quên mẹ ngồi đứng không yên/ Dù chỉ có anh và ngọn cỏ lúc này (Đường tới thành phố).
Bao nhiêu người lính như thế đã không được trở về với mẹ, họ chấp nhận hy sinh để cho Sài Gòn òa vỡ ra trong niềm vui giải phóng: Năm cánh quân từ năm hướng trở về/ Thành phố đầy áo trận/ Ở cuối đường một vành lá vút qua/Chỉ chờ thế là người xô như sóng… Và, trong cái nhìn cận cảnh hình ảnh anh bộ đội phong trần trận mạc xiết bao: Tháp pháo để trần lăm chăm vết đạn/ Dằng dặc đường về/ Mòn xích sắt vẫn quay nồng mùi đất/ Mặt đường hăng mùi cỏ ngoại ô/ Đồng chí trưởng xe/ Mình quấn đầy băng trắng/ Anh giơ tay cả thành phố động lòng/ Xạ thủ trung liên/ Quần áo màu rừng ngả sang màu đất/ Đôi dép râu dẫn trước đội hình/ Hoa nhiều quá nhưng anh không kịp nhận… (Đường tới thành phố).
Hình ảnh anh bộ đội giải phóng trong ngày Sài Gòn giải phóng được khắc họa khá nhiều trong thơ ca thời ấy. Nguyễn Thành Vân trong bài thơ Ngôi sao trên đầu, khẩu súng trên vai đã rưng rưng ghi lại: Tôi bị vây tròn vòng ngoài vòng trong /Tôi bị hỏi dồn, phía sau phía trước /Cô bác nhìn tôi từ đầu đến chân /Tôi phải trả lời bằng tay bằng mắt.
Hoàn toàn không có cảnh Sài Gòn tắm trong biển máu bởi lòng thù hận của cộng sản như sự xuyên tạc của kẻ thù. Một Sài Gòn giải phóng, một Sài Gòn hòa bình đã trở về với Tổ quốc thân yêu. Đại thắng mùa xuân 1975, ước mơ Việt Nam thống nhất đã trở thành hiện thực.
Ngày 30 tháng 4 và Sài Gòn giải phóng đã trở thành bản giao hưởng Chiến thắng sau những tháng năm chiến đấu bất khuất kiên cường và bi thương khổ đau của dân tộc. Bao nhiêu máu, bao nhiêu mồ hôi đã đổ xuống đầm đìa trên con đường giải phóng đất nước. Cái giá của độc lập tự do, hòa bình thống nhất đất nước vô cùng to lớn. Có phải vì thế mà khi được thưởng thức một đêm giao hưởng giữa Sài Gòn, nhà thơ Anh Ngọc đã xao xuyến với những liên tưởng rất đẹp: Cát bụi đường xa khẩu súng ngọn cờ /Ngửa bàn tay gặp bàn tay nhạc trưởng /Mở tấm lòng gặp tấm lòng giao hưởng /Bổng trầm cung bậc tìm nhau /Sài Gòn trong ta là trái chín vẹn nguyên /Chiến thắng đặt vào lòng hai đứa /Một nửa anh và em một nửa (Sài Gòn đêm giao hưởng).
Khẩu súng ngọn cờ đã trở thành linh vật tượng trưng cho một giai đoạn lịch sử hào hùng đã qua của dân tộc. Những bông sen đã mọc lên từ mảnh đất Việt Nam thấm máu trở thành thông điệp giao hòa thân thiện của chúng ta. Sự tốt đẹp ấy đã được bắt đầu, được tính từ ngày 30 tháng 4 lịch sử mà âm hưởng hào hùng của nó còn vang vọng trong những vần thơ sinh ra cùng cái thời mãi mãi không bao giờ quên ấy.
Và góp phần làm nên chiến thắng hào hùng ấy không thể không tính đến những bài thơ đánh giặc của thế hệ thi sĩ thời chống Mỹ.







