Biên phòng - Có thể nói, tư tưởng chính của người Tày là tư tưởng vị an, luôn mong muốn đem lại sự bình an cho bản thân, gia đình, làng bản, đất nước... Khi họ xem hướng mồ mả, hướng dựng nhà, hướng lập bản... đều nhằm mục đích là để đem lại bình an cho tất cả mọi người, để cùng làm ăn thịnh vượng, phát đạt, tránh được bệnh tật, giặc giã... Ngay hướng mồ mả, hướng nhà cũng không bao giờ được ăn lệch về nhau và chéo nhau, mà phải để song song hoặc quay sang hướng khác. Làm như vậy là cũng vì mục đích để không bị tranh chấp lẫn nhau giữa người âm với người âm ảnh hưởng đến người đang sống.
![]() |
| Hát Then, "món ăn" tinh thần của người Tày, Tuyên Quang. |
Người Tày cũng như một số dân tộc khác ở Việt Nam cùng chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng Lão tử, Trang tử, Khổng tử, Mạnh tử, đạo Phật, đạo Thiên Chúa... Nhưng dấu ấn ảnh hưởng mạnh và sâu sắc nhất là tư tưởng của Lão tử, Trang tử, Khổng tử, Mạnh tử. Điều đó thể hiện qua việc thờ cúng tổ tiên, sự sắp xếp các ngôi thứ và tôn ti trật tự trong gia đình và xã hội. Các ông thầy tảo bắt buộc phải biết chữ Nho, họ là những người luôn thường xuyên củng cố sự bền vững của các hệ tư tưởng đó thông qua việc thờ cúng, ma chay...
Nhưng đối với người Tày, tất cả mọi tư tưởng đều quy tụ về một hệ tư tưởng duy nhất là vị an. Đến ngay cả người đã chết ở cõi âm cũng phải vị an. Nếu chẳng may bị động mả thì người ta sẽ tìm cách dời mả đến chỗ khác để được bình an, việc đó gọi là an mạ . Việc an mạ là nhằm để cho mồ mả của người chết được bình yên, hồn sẽ không đến quấy rối người sống nữa. Hoặc là mỗi năm vào dịp Tết Nguyên đán âm lịch, các gia đình đều đi mời các ông bà then về nhà để hát then cầu an giải hạn cho gia đình, với mong muốn đem lại cho gia đình sự yên ổn làm ăn phát đạt trong năm mới.
Người Tày đặc biệt đề cao tầng lớp trí thức, họ quan niệm ai đã đi học thì phải học để làm quan và làm thầy, nếu không thì cứ ở nhà trồng trọt, cày bừa làm ra thật nhiều của cải. Trong các truyện cổ Tày, tầng lớp trí thức thường được ví với con rùa, bao giờ cũng rất thông minh và tài giỏi. Ví dụ như con rùa thắng hươu trong truyện Hươu và Rùa, Thần Kim Quy trong Truyền thuyết An Dương Vương, con rùa mách cho người biết lên trời sẽ bị Pửt Luông bỏ thuốc câm trong Truyện Pửt Luông gọi lên trời... Người Tày cũng quan niệm con người phải có tri thức mới chiến thắng thiên nhiên, giặc giã cùng tất cả mọi thứ. Tri thức sẽ giúp con người đến được sự bình an.
Quan niệm sống phổ biến nhất trong xã hội Tày là phải sống ngay thẳng trung thực, lấy tình nghĩa làm trọng, lấy tín nghĩa làm đầu. Nhiều câu ca dao, tục ngữ nói về vấn đề đó. Chẳng hạn: Hết đây chin bấu lẹo/cổt kẹo chin bấu lầng (Làm ngay thẳng ăn không hết /Làm cong queo ăn không được đều); Ngần chèn tang tôm nhả/Tha nả tảy xiên kim (Tiền bạc như cỏ rác/Thanh danh tựa ngàn vàng); Slương căn nặm to xâng bấu láng/Bấu slương nặm to áng nhằng luây (Thương nhau nước đựng sàng không chảy/Không thương nước đựng chậu cũng trôi)... Trong lĩnh vực tình cảm, người ta cũng hướng tới sự an bình: Pỉ noọng tam tó bấu táy pỉ noọng xó lườn (Anh em ruột thịt không bằng người dưng ở gần).
Người Tày có một hệ thống truyện cổ đồ sộ không kém gì truyện cổ Hy Lạp, trong đó có truyện Mồ côi, anh chàng mồ côi sinh ra chỉ có mẹ, không có cha. Bởi vì lúc người vợ đang có mang vì thèm ăn thịt nai. Người chồng cứ mải miết đi săn nai ở trên rừng để lấy thịt cho vợ ăn. Do đi săn mãi đã bị biến thành nai. Khi anh chàng mồ côi lớn lên thì mẹ anh mất. Anh rất thương cha và đã đi lên rừng tìm . Anh đã tìm thấy cha là một con hươu già.
Cha anh đã biến thành hươu nên rất sợ chó. Anh về bảo cả bản giết hết chó đi để đón cha về nhà. Cha anh về đến nhà do tò mò nên đã mở vung chiếc nồi đang sôi sùng sục trên bếp lửa. Thấy cái mõm chó trong nồi đang nhe hai hàm răng, tưởng sắp bị chó cắn nên con hươu vội chạy lao ra ngoài cửa, bị vướng vào cửa gãy mất một bên sừng. Sau đó, anh chàng mồ côi lại lên rừng tìm cha lần nữa, nhưng hươu già bảo không về nữa vì đã quen ở trong rừng rồi. Hươu già dặn anh: “Con về nhà hãy lấy dây về buộc chiếc sừng gãy đó kéo đi bị mắc đâu thì làm ruộng, vướng đâu thì làm rẫy”.
Anh chàng mồ côi về nhà làm theo lời cha dặn. Anh kéo chiếc sừng hươu đi bị vướng vào cột nhà sàn chỗ dưới gầm cầu rửa của nhà bà góa. Anh xin bà góa lấy chỗ có vũng nước dưới cầu rửa đó để làm ruộng. Thửa ruộng rộng chỉ bằng chân chim, nhưng khi đến mùa lúa chín thì gặt hết ngày này sang ngày khác, mãi vẫn không xong. Một hôm có bảy cô tiên từ trên trời đi xuống hái dâu, anh chàng mồ côi kể với các cô tiên về thửa ruộng gặt hái không bao giờ xong của mình. Các cô tiên nghe xong bèn đổi cho anh đi hái lá dâu để các cô tiên gặt lúa giúp. Các cô tiên gặt đến đâu thì lấy ngoáy tai lấy dáy tai của mình nhét vào ống rạ đến đó nên lúa không ra nữa. Chẳng mấy chốc, thửa ruộng đã được gặt xong. Ngày nay, trong ống rạ vẫn còn những miếng lụa trắng rất mảnh, người Tày cho rằng, đó chính là dáy tai của các cô tiên ngày xưa.
Còn anh chàng mồ côi mang túi đi hái lá dâu thì thấy trong mỗi cái túi có một đôi cánh rất đẹp. Anh đã lấy đôi cánh đẹp nhất đem cất lên mái nhà. Đến khi chàng mồ côi hái dâu xong, giao những túi lá dâu cho các cô tiên. Các cô tiên nhận lại túi cùng đôi cánh lại bay về trời. Nhưng riêng nàng tiên út vì bị mất cánh nên đành ở lại và kết duyên với anh chàng mồ côi. Vợ chồng anh sau này sinh được hai người con trai... Mọi niềm vui, nỗi buồn đến với anh chàng mồ côi bắt đầu từ đó, câu chuyện rất dài...
Người Tày thường lấy câu của hươu già nói với con trai “Cặm hâư hết nà, cà hâư hết lảy” (Mắc đâu làm ruộng, vướng đâu làm rẫy) để làm phương châm sống. Quan niệm đó rất giống với quan niệm hiện sinh của thời kỳ hiện đại ngày nay. Hoặc khi Pửt Luông nói “Coóc mò dọ pây nả, Cần lủc pjạ lẻ thai” (Sừng bò chìa về đằng trước, Ai con mồ côi thì phải chết) nhưng anh chàng mồ côi đã nói lại rằng: “Coóc bẻ vẹ pây lăng, Cần lầư hôm hăng lẻ đảy” (Sừng dê chĩa về phía sau, Ai mà dũng mãnh hơn sẽ thắng)... Triết lý sống cuối cùng là phải can đảm và mạnh mẽ. Triết lý sống đó đã được người Tày xưa nay luôn hành động làm theo.







