Biên phòng - Tôi là người mê quan họ Bắc Ninh, nhưng có điều cứ làm tôi thắc mắc: Tại sao Bắc Ninh lại chỉ có 49 làng quan họ? Tại sao anh hai, chị hai lại không bao giờ được lấy nhau? Mặc dù đã có nhiều cách giải thích, nhưng sao lòng tôi cứ có điều gì thấy chưa thật thỏa đáng. Xuân này, tôi tìm về làng Diềm, xã Hòa Long, thành phố Bắc Ninh, nơi được nói là thủy tổ của quan họ. Và những điều tôi thắc mắc đã có lời giải, rất khác với những gì đã nghe và đã biết…

Không biết những người tôi hỏi thăm đường cố tình hay vô tình mà đều chỉ sai, cứ đi loanh quanh mãi. Bí quá, tôi điện cho người bạn làm ở Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh hỏi đường. Sau gần 2 giờ đồng hồ, tôi cũng tìm về được làng Diềm.
Mặc dù trời mưa nhưng ngay từ đầu làng, tôi đã thấy có một số người ngực đeo thẻ đón tiếp. Thấy tôi lặn lội mưa gió tìm về làng, lại nghe chuyện tìm đường, mấy bác trung tuổi mời nước rồi chỉ cho tôi một bác trung niên đang ngồi bên bàn gần đó. Hỏi tên được biết, bác là Nguyễn Văn Thư, năm nay 66 tuổi, nguyên Hội trưởng Hội Người cao tuổi làng Diềm và cũng là người dành nhiều tâm sức tìm hiểu nên biết rất rõ về truyền thuyết cũng như các làn điệu quan họ. Theo bác Nguyễn Văn Thư, Hội Lim tổ chức hằng năm vào ngày 13 tháng Giêng xuất phát từ 7 làng quan họ, ở thị trấn Lim mà người quan họ gọi là hội cụ, tổ chức hát quan họ, chỉ là hội gốc, chứ không phải là ngày lễ hát thời thủy tổ. Còn hội hát quan họ thời thủy tổ của làng Diềm được tổ chức từ tối mồng 5 và ngày mồng 6 tháng 2 âm lịch hằng năm. Vào tối mồng 5, làng đã tổ chức hát quan họ thâu đêm gọi là hát canh, tức là hát thờ bà tổ đã làm nên các làn điệu quan họ.
Bác Nguyễn Văn Thư kể rằng: Theo truyền thuyết, vào đời vua Hùng Vương thứ VI, vua Hùng có người con gái rất xinh đẹp, môi đỏ như hoa, tóc đen như mun, dài như suối, dày như mây, tên là Nhữ Nương đã đến tuổi cập kê. Vua Hùng Vương muốn kén rể nên giao cho công chúa Nhữ Nương 3 quả cầu để công chúa tung cầu kén chồng. Khi công chúa Nhữ Nương tung quả cầu lên, đã có người bắt được. Nhưng công chúa thấy người đó có tài nhưng kém đức nên xin vua cha cho đi chơi.
Được vua cha đồng ý, công chúa Nhữ Nương mang theo 3 quả cầu cùng 49 người, gồm cả nam và nữ đi ngao du sơn thủy. Khi công chúa Nhữ Nương và đoàn người vừa ra khỏi cung điện, tự nhiên có một cơn phong vũ cuốn công chúa và 49 người cùng 3 quả cầu đưa lên trời rồi thả xuống vùng đất lạ. Công chúa nhìn bốn xung quanh, thấy núi sông kỳ vĩ, cảnh đẹp, người hiền, sơn thủy hữu tình. Công chúa cho rằng đó là ý trời, bèn ra lệnh cho mọi người khai hoang lập ấp, làm ruộng, trồng dâu, và đặt tên là Viêm trang ấp mà ngày nay là làng Diềm.
Sau một thời gian khai khẩn trồng lúa, cấy cày, công chúa đi thị sát, kiểm tra xem việc làm ăn thế nào. Công chúa đi đến đâu, mọi người đều làm thơ và hát các bài thơ đó thành các giai điệu khác nhau. Và khi hát như thế đều có nam có nữ đối nhau. Để duy trì và phát triển lối hát trên, công chúa cho lấy ngày 6 tháng 2 hằng năm mọi người dạy cho nhau hát. Từ đó, ngày 6 tháng 2 trở thành ngày hội truyền thống của Viêm trang ấp. Trong các canh hát vào ngày mồng 6 tháng 2 hằng năm thường được chia làm 2 nhóm nam và nữ. Các nhóm hát ngày đó có tên là bọn quan họ. Vào các ngày như thế, các bọn quan họ say sưa hát đối, hát giao duyên hết cả đêm. Nội dung các bài hát nói lên cách làm ăn, sản xuất, tình yêu lứa đôi, ngợi ca cuộc sống thanh bình, còn giai điệu thì đầm ấm, trữ tình.
Từ khi cơn phong vũ cuốn công chúa cùng 49 nam thanh, nữ tú với 3 quả cầu về vùng đất này, sau khi trải qua bao vất vả, 49 người nam, nữ tùy tùng và công chúa kết nghĩa anh em coi nhau như ruột thịt. Vì đã là anh em ruột thịt nên trong số 49 người nam nữ đó không được lấy nhau. Công chúa lại dựng vợ gả chồng cho 49 người ở 49 làng khác nhau. Những người nam nữ đi lấy vợ, lấy chồng ở các làng lại đem các làn điệu hát của Viêm trang ấp mà dạy lại cho dân làng. Những người đó trở thành ông trùm, bà trùm quan họ của làng đó. Và đó cũng là lý do, vì sao anh hai chị hai không bao giờ được lấy nhau và vì sao Bắc Ninh chỉ có 49 làng quan họ. Và cũng vì thế, các làng khác chỉ gọi là làng gốc còn làng Diềm mới được gọi là làng thủy tổ quan họ.
Còn 3 quả cầu ngày trước vua ban, công chúa không dùng để chọn rể mà dùng vào việc cầu mưa thuận gió hòa cho lao động sản xuất. Hội cầu mưa này người làng Diềm gọi là hội cầu đảo. Năm nào không mưa, dân làng lại mang 3 quả cầu ra để làm lễ. Có năm, dân làng phải cầu lễ đến 9 ngày mới xong. Như để khẳng định câu chuyện truyền thuyết của làng, bác Nguyễn Văn Thư nói nhỏ với tôi: Hiện tại, làng Diềm còn lưu giữ 13 sắc phong, 32 đạo sắc. Trong sắc phong còn ghi: Nhữ Nương thiên tử nam nữ Nam hải đại vương... Tôi ngỏ ý muốn được chụp ảnh, bác Nguyễn Văn Thư bộc bạch: Những sắc phong còn lại bây giờ là tài sản vô giá của làng, nên hiện tại, các sắc phong này đang được cất giữ trong hòm. Ngay 3 quả cầu ngày xưa vua ban vẫn còn được dân làng Diềm lưu giữ và bảo quản. Những quả cầu này sẽ được sử dụng làm lễ cầu đảo vào các ngày lễ hội của làng.
Chuyện của nghệ nhân
Như để bù đắp cho sự vất vả tìm về làng Diềm trong ngày mưa gió, khi tôi ngỏ ý muốn đi thăm đền thờ tổ bà đã làm nên quan họ và một nghệ nhân của làng. Mặc dù đã muộn, trời vẫn mưa nhưng bác Nguyễn Văn Tấn, năm nay 61 tuổi, vẫn nhiệt tình đưa đi. Không may, người giữ đền thờ tổ bà đi vắng. Bác Nguyễn Văn Tấn lại nhiệt tình đưa sang nhà cụ Ngô Thị Nghi, một trong 7 nghệ nhân hát quan họ của làng Diềm, năm nay vừa tròn 90 tuổi.
![]() |
| Nghệ nhân Ngô Thị Nghi. |
Tuổi 90 nhưng cụ Ngô Thị Nghi còn minh mẫn và rất hiếu khách. Khi tôi vào nhà, đúng lúc gia đình đang ăn cơm, nghe thấy nói đến để nghe hát quan họ, cụ Nghi ngồi cạnh giường, đầu vấn khăn mỏ quạ, vui vẻ cười để lộ hàm răng đen nhánh hạt na, đón khách. Cụ bảo, cụ theo hát từ ngày còn nhỏ. Ông bà, bố mẹ của cụ ngày xưa là người hát quan họ hay lắm. Nhà cụ tối tối vẫn có các anh, các chị trong làng đến học hát. Còn nhỏ, chưa được học nhưng cụ cứ nghe rồi câu hát quan họ ngấm vào lúc nào không hay. Cứ thế, đến năm 16 tuổi, cụ đã là chị hai hát hay có tiếng trong làng, trong tổng. Nhà cụ ngày đó có tới 12 nhà chứa, có 12 bọn quan họ. Những người này, ban ngày đi làm kiếm ăn, tối về, học hát suốt đêm. Vào những năm 1945 cho đến 1950, giặc giã, cả nhà phải đi tản cư cho đến năm 1951 mới quay trở về làng. Khi trở về làng, các ông bà, cha mẹ của cụ lại tiếp tục truyền dạy con cháu hát quan họ. Cụ Nghi khoe: Cả nhà cụ, bây giờ, tất cả con cháu đều biết hát. Vào ngày lễ hội đều đi hát và phục vụ cho khách thăm làng. Rồi cụ cười: Tôi được tỉnh phong tặng nghệ nhân hát quan họ nhưng bây giờ già rồi, câu nhớ câu quên, biết đến đâu thì tâu đến đấy. Tôi hỏi cụ: Bây giờ, cụ còn nhớ được bao nhiêu bài? Cụ cười, bỏm bẻm môi trầu: Không nhớ được nhiều nữa, nhưng khoảng 400 bài gì đó. Nói đoạn, cụ Nghi chỉ tay về người con trai Nguyễn Xuân Ký, bảo: Tôi hát, nó ghi âm hết lại các bài hát vào đĩa rồi. Tôi nhớ được câu hát nào lại bảo nó ghi âm. Cứ từ các đĩa ấy mà học hát theo. Nhỡ đâu... Cụ nói đến đó, bỏ lửng câu chuyện. Cụ Nghi quay sang tôi bảo: Tôi hát cho anh nghe nhé. Người quan họ có khách đến nhà là sẽ hát bài: Khách đến chơi nhà mà. Nói đoạn, cụ lấy tay làm động tác như quệt trầu rồi hát: Khách đến ứ chơi hự hư nhà là chơi hự hư nhà... Mặc dù ở tuổi 90 nhưng tiếng hát của cụ còn tròn, rõ và khỏe lắm. Cứ thế, cụ hát cho tôi nghe trọn vẹn cả bài hát mà theo cụ là bài đầu hát đón khách đến thăm nhà của người quê quan họ.
Đợi cụ hát xong, 2 người con của cụ là Nguyễn Xuân Ký và Nguyễn Văn Ô lại cùng hát cho tôi nghe một bài hát khác. Tiếng hát của các anh mượt mà và nhẹ nhàng, thư thả như người đi bách bộ vừa đi vừa hát vậy. Tiếng hát mộc, không có nhạc mà sâu lắng và thiết tha làm sao, tiếng nào ra tiếng đấy. Được nghe cụ Nghi, anh Ký, anh Ô hát mộc cho nghe, tôi nhớ, lúc ngoài đình, bác Nguyễn Thị Lơn, 70 tuổi, chị hai của làng, thấy tôi quan tâm đến quan họ tâm sự: Hát quan họ nguyên gốc là hát mộc, chứ không hát có nhạc như bây giờ đâu. Người hát quan họ đúng, yêu cầu đầu tiên là phải hát tròn vành rõ tiếng. Chứ bây giờ, trên vô tuyến, trên đài, người ta hát quan họ luyến láy nhiều quá và hát sai nhiều quá, như trăng thì lại hát thành giăng, hoa nhài thành hoa lài, là thành nà... Sau khi thống kê một loạt các từ hát sai, bác Lơn thở dài: Hát thế đâu còn là quan họ nữa.
Mặc dù lòng còn muốn ở lại được nghe cụ Ngô Thị Nghi và các anh Ký, anh Ô hát những bài quan họ cổ, nguyên gốc nhưng thấy đã muộn, trời ngày càng mưa nặng hạt, tôi xin phép ra về. Tiễn chân tôi ra đến sân nhà, cụ Nghi dặn: Tối mồng 5 và ngày mồng 6 tháng 2, làng mở hội, nhớ về nghe hát nhé. Vâng. Nhất định tôi sẽ về. Tôi còn muốn được tìm về câu quan họ ngày xưa, về với cái tình đằm thắm, hiếu khách của người quê quan họ. Có tiếng hát của cháu bé nói còn chưa sõi từ trong nhà vọng ra: Ến ẹn í a ại ên ì í i...








