Biên phòng - Cuối cùng thì huyện Na Hang, Tuyên Quang cũng hiện ra như câu chuyện về "thửa ruộng cuối" hay "mảnh ruộng đuôi" mà Hoàng Quốc Lâm, bạn đồng hành với tôi kể. Đêm xuống thật nhanh. Trước khi rửa chân lên nhà, Lâm cười, một cái cười đến mộc mạc, chân tình: "Quê em đấy!". Để rồi sáng, sau một đêm "ngủ say hơn chết", tôi theo Lâm vào rừng bắn gà rừng, lấy huyết lình trên vách đá cao vút... Một vùng núi nguyên sơ, Lâm chỉ lên những hang đá nói cho tôi nghe về cõi đá đầy huyền thoại. Nào là hang Khỉ Đột, nào là hang Mẹ Con, hang Treo, hang Thục Nữ, hang Tình Yêu... Cứ thế lần rừng, một ngày được ăn cơm xôi mẹ Lâm bọc trong lá dong và uống nước trong ống nứa, trong dây rừng. Nhưng câu chuyện thu hút nhất, huyền hoặc nhất vẫn là "Cửu thập cửu sơn linh", 99 ngọn núi đã đi vào huyền thoại. Để cho một trăm con đại bàng không thể hạ cánh xuống một vùng núi sông đắc địa. Ấy vậy mà đã cách đây 30 năm...
![]() |
Hôm ấy, nàng Mơ vẫn quyết định băng rừng, vừa đi vừa gọi chồng và tối ấy, nàng Mơ vẫn đi tiếp, quyết không nghỉ lại sợ núi Pác Ban lại lùi xa như đêm trước. Trong đêm tối mịt mùng, nàng Mơ đã bị lạc trong rừng sâu và từ đó, hai vợ chồng người làm thuốc nam không về nữa. Cũng từ đấy, người dân trong vùng thấy từ đỉnh Pác Ban tung ra một dòng thác trắng xóa, cao ba tầng. Thương nhớ và biết ơn vợ chồng nàng Mơ, người dân trong vùng đã gọi dòng thác là thác Mơ từ đấy...".
Sáng sớm, bắt đầu từ thành phố Tuyên Quang, theo quốc lộ 2, xe chúng tôi lên km 31, trong đầu tôi luôn lẩm nhẩm cái câu: "Đi giữa cái mới để tìm lại dáng xưa...". Khi rẽ vào cầu Bợ, một cây cầu cứng vắt mình qua sông Lô thay thế bến phà mòn vào dòng nước, mòn vào vách đá năm xưa, tôi đã cố hình dung để may chăng tìm lại một chút gì đó ở dấu xưa?
Xe cứ chạy, để tôi thu vào mắt một cảm nhận, một chiêm nghiệm, một khoảng cách thời gian. Cái ngày Lâm mời tôi uống nước của núi, của rừng trong lá ráy còn lưu lại đâu đây. Thế rồi, xe vượt đèo Cổ Yểng, một cái "cổ xưa" mà "mới tinh", một cái cổ mà dài hơn 20 cây số để đến với Na Hang. Con đường trên đèo cứ uốn lượn, quấn chặt lấy mặt nước hồ trong xanh của thủy điện Chiêm Hóa. Nhà thơ Mai Liễu cười cười, vẻ mặt đầy xúc cảm: "Con đường vượt đèo này đã biết bao thanh niên xung phong phồng tay cuốc, bẹt tay mai, chảy máu xà beng, để hôm nay, chúng mình tìm về nơi trời được thả sâu vào đáy nước...". Con đường vắt qua đèo Cổ Yểng đã nối Na Hang với bên ngoài, thả ánh sáng cách mạng vào vùng rừng còn nhiều huyền bí.
Khi bước vào thăm Nhà máy thủy điện Tuyên Quang, tôi không khỏi ngỡ ngàng trước công trình được chặn dòng, ngăn lũ trên con sông có độ dốc và lượng nước hung dữ vào bậc nhất vùng Đông Bắc. Ba tổ máy với 342MW, để đứng vào hàng thứ ba của những nhà máy thủy điện ở miền Bắc, chỉ sau thủy điện Sơn La và thủy điện Hòa Bình ngự trị sông Đà.
Tiếng cô dẫn hướng viên lại vang lên: "Chỗ chúng ta đang đứng, cách đây 11 năm là thuộc xã Vĩnh Yên, huyện Na Hang, hàng nghìn hộ dân cả trong lòng hồ, cả trên nền đất cũ của nhiều dân tộc đã nhường nơi chôn rau cắt rốn của mình cho nền công nghiệp sạch ra đời. Nhà máy được khởi công xây dựng năm 2002 và bắt đầu vận hành tháng 12-2008. Hơn 10 năm qua, dòng điện từ lưu lượng nước sông Gâm đã hòa vào dòng năng lượng quốc gia, làm nên những ước mơ, thổi hồn vào công nghiệp...".
Anh Lê Thanh Sơn, Trưởng ban quản lý các danh thắng và du lịch tỉnh Tuyên Quang quay lại nhìn tôi: "Hạnh phúc và đẹp lắm anh ạ, anh đừng cho là "mẹ hát, con khen hay" nhé. 10 năm qua, người dân thành phố Tuyên Quang không còn phải hỏi nhau những câu mà trước đây mỗi mùa mưa đã trở thành quen thuộc: "Nước lũ dâng đến đâu rồi?...".
Chỉ riêng chuyện thành phố Tuyên Quang, vùng hạ lưu hết lụt, hết chuyển nhà, chuyển cửa cũng hạnh phúc lắm rồi. Mỗi mùa mưa về, nhìn dòng Lô gồng lên sau một đêm mưa, là người dân trong thành phố chuẩn bị kéo tủ, kéo bàn ghế, tháo giường mang lên gác. Rồi bà con Tràng Đà, bên kia sông, đánh trâu bò, đuổi lợn gà, ngan ngỗng lên chân núi Dùm. Những ruộng ngô, ruộng bí chìm trong biển nước bao la... Thế mới thấy sự thành công của một công trình, hai ba mục tiêu, hai ba thắng lợi...
Còn anh Chuyền, Phó Chủ tịch huyện Nà Hang cười ngất ngứ: "Tôi là người gắn chặt đời mình với vùng đất thẳm sâu bên dòng Gâm cuồn cuộn này để hôm nay được hưởng một mặt hồ láng gương đầy thơ mộng. Được chứng kiến những nhát cuốc đầu tiên, được nhìn một nhà máy thủy điện vẫn bằng dòng nước hung dữ năm xưa mà hiền hòa hôm nay đang đưa điện năng đến mọi vùng, góp phần vào nền tảng công nghiệp...".
Lúc trước ngồi trên chiếc ca nô cao tốc với mặt hồ mênh mang, ngước mắt nhìn sang núi Pác Tạ, một "bầu rượu" thiên nhiên, một "trái quít" mọng nước, mọng tình. Ai bảo sao thì bảo, còn tôi nhìn Pác Tạ giống như bầu sữa trên ngực người mẹ nơi lòng đất, rồi lại giống như sức vươn của núi, của rừng, sức hút của trời mà thả ngọt ngào vào bồng bềnh nước, bồng bềnh mây trắng. Dưới chân núi là đền Thiếp, một ngôi đền thờ thiếp của Tướng Trần Nhật Duật, một vị tướng nhà Trần, có công mở rộng vương quốc, mở rộng đất đai...
Ngôi đền như một minh chứng cho thời kỳ lịch sử đầy hào hùng dân tộc, một thời được coi là bình minh đất nước. Lại nhớ câu thơ: "Từ thuở mang gươm đi mở cõi, ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long...". Ngôi đền trước đây nằm trên bờ sông Gâm, qua năm tháng nắng mưa, qua thăng trầm của thời gian đã chìm vào rừng xanh núi đỏ. Rồi thời đổi mới nền kinh tế đất nước mở ra, cũng gắn liền với công tác gìn giữ bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc. Ngôi đền Thiếp được chỉnh trang như lòng dân, như hồn cốt một vùng quê, hồn cốt dòng Gâm chảy qua miền lâm sơn kỳ vĩ...
Theo người dân kể lại, sau một đêm gió mưa, giông bão, như có phép màu, mái ngôi đền bay sang chân núi Pác Tạ mà vẫn còn nguyên vẹn. Thế là ngôi đền được đồng bào nơi đây chung tay chuyển sang nơi mà mái đền bay tới. Rồi cũng dâng theo dòng nước, mặt hồ mênh mang, ngôi đền lại chuyển chỗ ngồi, để hôm nay trên độ cao 140m, ngôi đền Thiếp của tướng nhà Trần ngả bóng soi mình vào màu xanh long lanh, như tan vào huyền thoại.
Đứng trên mặt đập, nhìn dòng nước vươn dài về hạ lưu, đưa những vòng quay điện năng, thổi hồn vào quê núi, quê sông, quê đồng, quê ruộng với nghìn năm đất nước. Không thể không tự hào, không rung cảm trước những đổi thay choáng ngợp của một vùng đất, vùng nước trên thượng đỉnh non xanh. Nhìn những chú thiên nga của Công ty du lịch vùng hồ thư thái trong chiều, nhìn những anh công nhân vào ca hồ hởi. Tiếng yếu, một điệu dân ca Tày đâu đó vút lên, tiếng cười đâu đó lan vào nước, ngấm vào tôi, ngấm vào người đi, ở... Ánh điện lung linh che khuất ánh sáng sao trời, thả xuống mặt hồ như ánh đèn tỏa vào trang sách em thơ mở rộng.
Nói là đi tìm lại dấu xưa, nhưng gần như những hình ảnh cái buổi chiều cách đây hơn 30 năm của tôi và Lâm chẳng còn sót lại một chút gì, dù chỉ là nhỏ nhất. May chăng chỉ còn lại những khu rừng nguyên sinh tầng tán trong khu bảo tồn Na Hang, để những lời thuyết minh diệu nghệ của Trà My lại cất lên đâu đó: "Khu bảo tồn thiên nhiên có diện tích gần 42.000ha, trong đó, vùng lõi được bảo vệ nghiêm ngặt chiếm gần 28.000ha, khu phục hồi sinh thái gần 13.000ha...".
Chia tay Nà Hang, chia tay mặt hồ mênh mang nước, dòng điện đang bừng lên phía bên kia đèo Cổ Yểng. Anh Sơn nắm chặt tay tôi: "Anh nhớ quay lại đây nhá, nhớ đấy, Na Hang là thửa ruộng cuối mà, có đầu, phải có cuối chứ anh...". Tôi nhớ, rất nhớ, nhớ một "thửa ruộng cuối" trên vùng núi rừng không bao giờ là cuối. Nơi có cột đá chống trời, có Khau Vài Phạ giữa "Cửu thập cửu sơn linh", 99 ngọn núi đang chờ đợi đại bàng một ngày hạ cánh.








