Biên phòng - Trong đội ngũ nhà văn viết về dân tộc và miền núi, Vi Hồng là cây bút có số lượng các tác phẩm đồ sộ, đặc biệt về tiểu thuyết, chưa có nhà văn dân tộc thiểu số nào vượt qua được ông. Điểm nổi bật nhất trong các tác phẩm của Vi Hồng là cái nhìn hiện thực và con người miền núi luôn ở thế lưỡng cực với hai tuyến thiện, ác mang tính dân gian.
| |
| Nhà văn Vi Hồng. |
Trong tác phẩm Vào hang, thế giới miền núi được ông miêu tả thuộc về “một thời đảo lộn”, “cuộc đời đầy rẫy những ô trọc, phản phúc điên đảo”, không chút le lói về sự dân chủ, công bằng. Trong tiểu thuyết này và cả tiểu thuyết Chồng thật vợ giả, sống giữa thời hiện đại mà có những người phải đưa nhau lên hang trên núi ở, thậm chí ăn lá ngón tự sát để trốn tránh cái ác trong xã hội.
Nếu như trong các tác phẩm: Vãi Đàng, Đất bằng, Núi cỏ yêu thương ra đời vào thập kỷ 80 của thế kỷ trước, bộ mặt của cái ác còn chưa thực sự gớm ghiếc, thì sang thập kỷ 90, cái ác đã đi đến tận cùng giới hạn của nó. Ngoài hai gương mặt quỷ là Ba và Đoác, còn có Hỷ trong Gã ngược đời, Sa và An trong Lòng dạ đàn bà, Ma Chàn trong Đi tìm giàu sang...
Những con người thiện, phái thiện luôn có mặt trong cuộc chống chọi vĩnh cửu với cái ác. Luồng gió đổi mới vừa khơi dậy đã thổi bùng lên ở Vi Hồng cảm hứng vạch trần cái ác, nâng đỡ cho quan điểm mang tính tuyên ngôn nghệ thuật của ông: “Các trang viết của tôi là những lời tâm tình cùng các dân tộc miền núi, trước hết với người Tày rằng: Hãy yêu thương và biết yêu thương những cái đẹp, nhất là những con người đẹp, cao cả, đồng thời đem hết sức mình ra trừ diệt cái ác, kẻ ác”.
Một đặc điểm nữa làm nên nét riêng trong hệ thống tác phẩm của Vi Hồng là hiện tượng một số nhân vật được dân gian hóa với mô-típ, chi tiết mang nặng tính dân gian. Những yếu tố này đã mang lại ít nhiều một không khí huyền thoại xa xưa trong các tác phẩm. Con người trong truyện cổ dân gian thường là những con người không có đời sống nội tâm và mọi hành động cũng như sự thành bại của họ thường không phải là hệ quả của sự vận động tự thân với tính cách, tâm lý, tư duy của chính họ, mà được quyết định gián tiếp bởi ước mơ, khát vọng của nhân dân thông qua sự can thiệp trực tiếp của thần, Phật.
Những tác phẩm như Lòng dạ đàn bà (1992), Đi tìm giàu sang (1995) của Vi Hồng rất xa với chủ nghĩa hiện thực theo quan niệm cổ điển, càng xa với hiện tượng “nhân vật nổi loạn” từng xuất hiện như là sự thành công trong các tác phẩm ưu tú thuộc phương pháp sáng tác này.
Nói như vậy không có nghĩa là mọi sáng tác của Vi Hồng ít có giá trị hiện thực. Nhìn vào toàn bộ tác phẩm của nhà văn dân tộc Tày này có thể thấy bên cạnh những tiểu thuyết mang nặng tính dân gian, còn có những truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết tươi đậm những chất liệu đời sống như Vãi Đàng, Đất bằng, Núi cỏ yêu thương, Đuông Thang, Người làm mồi bẫy hổ, Đường về với mẹ chữ...
Trong những tác phẩm này, phong tục tập quán, thực tiễn lao động, học tập, sinh hoạt và tình yêu của người Tày, cả thế giới muông thú nhiều bí ẩn... hiện lên sinh động và hấp dẫn người đọc. Dễ thấy trên những trang viết ấy, nhà văn sống với hiểu biết và sự trải nghiệm của mình nhiều hơn là tưởng tượng.
Dấu ấn độc đáo của văn xuôi Vi Hồng là nét đằm thắm, trữ tình được gợi lên từ những kỷ niệm máu thịt đượm hồn dân tộc mà nhà văn đã trải qua, ở thiên nhiên ấm áp, bảng lảng hương vị miền núi với cơn mưa bột trong Đất bằng, tiếng chim sam péc trong Núi cỏ yêu thương... Sự giao thoa giữa hai sắc màu hiện thực và dân gian trong cả hình tượng con người và thiên nhiên đã đem lại cho thế giới nghệ thuật Vi Hồng một không gian vừa thực vừa hư, vừa trần trụi nghiệt ngã vừa mơ màng, trong sáng, bay bổng.
Trong đời viết của mình, Vi Hồng luôn đi vào những khía cạnh hiện thực của cuộc sống miền núi: Chống phong kiến, định canh định cư, vai trò người trí thức dân tộc, sai lầm của kinh tế hợp tác xã một thời, quyền tự do luyến ái của thanh niên... Giá trị hiện thực càng được nâng cao khi qua một số tác phẩm từng gây xôn xao dư luận đầu thập kỷ 90, nhà văn đã đề xuất được những vấn đề có ý nghĩa xã hội và nhân sinh khá sâu sắc.
Ông cũng để lại trong tác phẩm của mình không ít câu văn hiện đại cả về ngôn ngữ và tư duy, trong đó bộc lộ những suy nghĩ, cái nhìn rất thẳng thắn, mạnh bạo về con người và cuộc sống ở miền núi. Đây là điều hiếm lạ ở một nhà văn dân tộc thiểu số, cho thấy tầm nhìn và sự bén nhạy với thời cuộc của một cây bút biết thừa hưởng thời cơ “cởi trói” cho văn nghệ đầu thời kỳ đổi mới.
Một nét đặc trưng làm nên cái riêng của văn xuôi Vi Hồng, là các nhân vật của ông thường đối thoại với nhau bằng ngôn ngữ của thơ ca. Đó là hình thức “nói với nhau theo đường ong bay hoa nở”, “theo lối nói trai thanh gái nụ” (Lòng dạ đàn bà) mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Tày. Thực chất đây là sự tiếp thu hình thức lượn giao duyên (dân ca) và phuối pác (hay phuối rọi - một kiểu nói có vần dùng trong giao lưu nam nữ hằng ngày hoặc trong sinh hoạt lễ hội của người Tày).
Lối nói này xuất hiện ở mọi ngữ cảnh, quan hệ giao tiếp trong tác phẩm, nhưng chủ yếu giữa nam nữ thanh niên, bởi Vi Hồng là cây bút có sự quan tâm đặc biệt đến thế hệ này và luôn ưu ái cho vị trí của họ trên trang viết. Trong lời đối đáp của nhân vật, các hình ảnh “hoa”, “quả”, “ong” thường xuyên xuất hiện, trở thành phương tiện biểu đạt chính cho câu chuyện tình ái của con người (tương ứng với “mận”, “đào”, “thuyền”, “bến” trong ca dao của người Kinh).
Tất cả những cách nói bay bướm, hoa mĩ hình thành từ các phương thức so sánh, ẩn dụ, ngoa dụ, đối xứng... vốn là những yếu tố nghệ thuật dân gian lâu đời xuất hiện với tần số cao khiến văn xuôi của Vi Hồng có nồng độ chất thơ cao nhất.
Nhìn theo hướng tích cực, có thể thấy “Ngôn ngữ anh dùng đẹp như thơ, vừa trau chuốt, vừa xiết bao gần gũi với lối nói của người Tày” như có người đã nhận xét về Vi Hồng. Xét từ hoàn cảnh sáng tác, được nuôi dưỡng trong một cộng đồng mà từ lời ăn tiếng nói hằng ngày đã mang tính thơ, việc các tác giả văn thơ Tày chịu ảnh hưởng sâu sắc của diễn ngôn dân gian là điều tự nhiên, dễ hiểu.
Nhà nghiên cứu Lâm Tiến cho rằng: “Cách viết của Vi Hồng vừa hiện thực vừa lãng mạn, vừa dân gian vừa bác học, vừa truyền thống vừa hiện đại. Nhưng cái lãng mạn thường lấn cái hiện thực, cái dân gian lấn cái bác học và cái truyền thống lấn cái hiện đại”.
Đây là một nhận định xác đáng. Chịu ảnh hưởng sâu sắc các nguồn folklore Tày, Kinh như dân ca, truyện cổ và các phương thức tu từ, văn xuôi, Vi Hồng là biểu hiện tích cực nhất, triệt để nhất của sự kế thừa truyền thống, kế thừa di sản văn hóa, văn học dân gian trong văn xuôi dân tộc và miền núi.






