Biên phòng - Tết, nhiều người thường lên núi Thiên Ấn viếng mộ chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng, Tổng biên tập tờ báo Tiếng Dân, một con người hết lòng vì dân, vì nước. Mùa xuân này, chợt nhớ đến Cụ làm thơ, mừng Xuân độc lập cách đây 67 năm.

Mùa xuân năm 1946, năm đầu tiên nước nhà giành lại độc lập, thoát khỏi ách nô lệ, gông cùm của thực dân Pháp, Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã viết câu đối chia vui cùng đất nước:
"Mẹ đất rước xuân về, gia đình chung cô bác anh em, nâng chén rượu mừng nhau, hai chục triệu người không thiếu bạn.
Cha trời cho sống mãi, họa kiếp trải binh đao nước lửa, co ngón tay đếm thử, bảy mươi mốt tuổi vẫn chưa già".
Chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng sinh ngày 1-10-1876. Quê ông ở xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Huỳnh Thúc Kháng thi đỗ thủ khoa kỳ thi hương năm 1900. Năm 1926, ông đắc cử dân biểu rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Năm 1927, ông sáng lập tờ báo Tiếng Dân để tham gia tranh đấu cho nước nhà. Thực dân Pháp đã đau đầu vì tờ báo Tiếng Dân. Trên tờ báo, chỗ nào bị kiểm duyệt và tẩy xóa, Cụ Huỳnh cho để nguyên vùng trắng loang lổ. Người đọc tự hiểu đó là phần đã bị cắt bỏ.
Tờ báo Tiếng Dân đã có sự ảnh hưởng rất rộng lớn trong tầng lớp nhân dân suốt 16 năm. Thực dân Pháp đã đình bản tờ báo Tiếng Dân vào năm 1943.
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông ra tham gia vào Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ông được giao trọng trách, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Cuối năm 1946, Huỳnh Thúc Kháng là Đặc phái viên của Chính phủ tại Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ. Trụ sở đóng tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
Ngày 21-4-1947, chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng lâm bệnh nặng và qua đời tại huyện Nghĩa Hành. Thỏa theo tâm nguyện của ông, nhân dân Quảng Ngãi đã an táng ông trên đỉnh núi Thiên Ấn. Nơi đây là đệ nhất thắng cảnh của Quảng Ngãi. Tương truyền, núi Thiên Ấn là ấn của trời đóng xuống cạnh dòng sông.
Ngôi mộ của Cụ Huỳnh được sưởi ấm bởi những vòng hương thơm, những ánh mắt lặng lẽ của hàng nghìn người đến viếng mộ và tưởng nhớ đến những việc làm vì dân, vì nước.
Thăm mộ Cụ Huỳnh nhớ đến lá thư của Cụ đã viết gửi Bác Hồ trước khi lâm chung tại Quảng Ngãi: "Tôi bệnh nặng chắc không qua khỏi. Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã được độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả...".
Tấm lòng tha thiết của Cụ như một tấm gương sáng muôn đời cho hậu thế. Những người lớp Cụ là vậy, "lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của mọi nhà". Hai lần đậu thủ khoa trong các kỳ thi hương và thi hội, nhưng vào cái thời đất nước bị giày xéo, dân tộc trong vòng nô lệ, Cụ quyết không làm quan để chạy theo danh lợi mà dành trọn đời cho việc tìm các sĩ phu để tìm đường cứu nước.
Cụ đã kêu gọi: "Chủ nghĩa gì cũng chẳng nên trò, nếu còn là dân nô lệ. Toàn dân đoàn kết, đại đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Cụ Hồ thì con thuyền cách mạng Việt Nam ta nhất định đến bến vinh quang, nước ta sẽ hoàn toàn độc lập, tự do". Lời kêu gọi ấy như chân lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Không có gì quý hơn độc lập tự do".
Tấm lòng ở mộ Cụ Huỳnh
Ngày xuân, dòng người như trẩy hội mang tấm lòng thành kính lên núi Thiên Ấn để viếng mộ Cụ Huỳnh Thúc Kháng, một con người suốt đời vì nước, vì dân.
Trước mộ Cụ Huỳnh Thúc Kháng, một người mẹ trao cây hương cho hai đứa con nhỏ và dặn dò: "Con hứa với Cụ Huỳnh sẽ cố gắng học thiệt giỏi và xin Cụ phù hộ". Khuôn mặt ngây thơ với nụ cười luôn đọng trên môi của hai đứa trẻ chợt dừng lại, thay vào nét trầm tư khi cầm cây hương khấn nguyện.
"Chị ơi, Bác Huỳnh Thúc Kháng làm quyền Chủ tịch nước, vậy thì hồi đó Bác Hồ vắng nhà hả chị?".
Tôi giật mình vì một cháu nhỏ, ước chừng chưa đến 8 tuổi, cất giọng nói trong vắt hỏi người chị của mình. Tôi giải thích: Đó là năm 1946, khi Bác sang Pháp đàm phán, Cụ Huỳnh được giao trọng trách thay Bác điều hành việc nước với lời tâm sự: Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ "dĩ bất biến, ứng vạn biến".
Câu hỏi ngây thơ của một em nhỏ trong ngày xuân, nhưng chứa đựng cả một chuỗi dài những năm tháng gian lao của đất nước. Còn đối với các em nhỏ, đây chính là bài học lịch sử để hiểu hơn về thế hệ cha ông đi trước, những người đặt nền móng cho hòa bình, cho mùa xuân đất nước hôm nay nở hoa. Mọi người đến đây đều ấn tượng về ông cụ có bộ râu trắng phơ, đốt từng que hương đưa cho mọi người. Đó là ông Nguyễn Tạo (77 tuổi), hiện đang trông coi mộ Cụ Huỳnh Thúc Kháng.
![]() |
Mộ Cụ Huỳnh Thúc Kháng trên đỉnh núi Thiên Ấn. |
Tất bật hướng dẫn mọi người vào viếng mộ, ông Tạo chia sẻ niềm vui: "Tôi tự nguyện lên đây chăm sóc mộ Cụ Huỳnh. Già này thấy vui khi nhiều người dắt con trẻ lên núi viếng Cụ, rồi căn dặn con cháu phải luôn nhớ ơn và học tập Cụ Huỳnh".
Tại huyện Nghĩa Hành, hiện vẫn còn lưu giữ nhiều di vật về Cụ. Trong ngôi nhà tranh như ngôi nhà Bác Hồ, chiếc áo dài màu đen của Cụ giờ vẫn được cất giữ trang trọng trong chiếc tủ gỗ. Một đôi guốc mộc, một chiếc đèn dầu... tất cả đều toát ra vẻ dung dị của một chí sĩ yêu nước.
Đất nước từng ngày vươn lên. Đã 65 năm kể từ sau ngày Cụ Huỳnh Thúc Kháng đi xa, nhưng cái triết lý thâm sâu về đạo làm người của Cụ vẫn luôn là con đường sáng để mọi người soi rọi, có trách nhiệm với xã hội.
Ngày Cụ Huỳnh mất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Cụ Huỳnh là người giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời Cụ Huỳnh không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm làm giàu. Cả đời Cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập".
Đầu xuân viếng mộ Cụ Huỳnh, mọi người hiểu sâu sắc thêm ý nghĩa của sự hy sinh, triết lý thâm thúy để thanh thản đi giữa cuộc đời. Cách hành xử "dĩ bất biến, ứng vạn biến" của Cụ khi được giao trọng trách quyền Chủ tịch nước để có thể làm tròn vận mệnh phụng sự quốc dân đồng bào. Và càng hiểu được sự hy sinh của cả một thế hệ như Cụ, đã tạo nên mùa xuân hôm nay.








