Biên phòng - Chiều 21-3, Quốc hội làm việc tại hội trường nghe Tờ trình của Chính phủ về kế hoạch sử dụng đất 5 năm giai đoạn 2016-2020, Chủ nhiệm Ủy ban kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu báo cáo thẩm tra về kế hoạch sử dụng đất 5 năm giai đoạn 2016-2020 và thảo luận Luật báo chí (sửa đổi).

Giảm diện tích rừng phòng hộ để đảm bảo đất sản xuất
Về sự cần thiết điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, theo Tờ trình của Chính phủ, đối với đất trồng lúa, theo quy hoạch được Quốc hội quyết định đến năm 2020, diện tích đất trồng lúa là 3.812,43 nghìn ha, trong đó, đất chuyên trồng lúa nước từ 2 vụ trở lên là 3.221,91 nghìn ha.
Chính phủ đề nghị điều chỉnh đến năm 2020, diện tích đất trồng lúa là 3.760,39 nghìn ha, giảm 52,04 nghìn ha và đất chuyên trồng lúa nước giảm 92,95 nghìn ha. Trong số 3.760,39 nghìn ha được giữ lại, có khoảng 400 nghìn ha được quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhưng khi cần thiết có thể quay lại trồng lúa theo Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015 về quản lý, sử dụng đất trồng lúa.
Tại Tờ trình Chính phủ đề nghị điều chỉnh quy hoạch đến năm 2020, diện tích đất rừng phòng hộ là 4.618,44 nghìn ha, giảm 1.223,25 nghìn ha so với Nghị quyết của Quốc hội, trong đó, một phần chuyển sang rừng đặc dụng và chủ yếu chuyển sang rừng sản xuất 1.100 nghìn ha. Diện tích 1.100 nghìn ha đã được rà soát ở các địa phương là đất có chất lượng rừng kém, nghèo kiệt, đất khoanh nuôi, bảo vệ nhằm phục hồi rừng bằng hình thức tự nhiên, đất mới trồng rừng nhưng chưa đạt tiêu chuẩn rừng ở các khu vực ít xung yếu.
Vấn đề này theo Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu cho rằng, việc chuyển đổi một phần diện tích đất rừng phòng hộ sang đất rừng đặc dụng là cần thiết vì thực tế diện tích rừng không bị mất đi mà vẫn được bảo vệ nghiêm ngặt để phát huy chức năng bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn gen, bảo vệ cảnh quan, đồng thời phát huy chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, với việc chuyển đổi diện tích đất rừng phòng hộ sang đất rừng sản xuất, theo Ủy ban Kinh tế, Chính phủ cần tính toán trên cơ sở tiêu chí để xác định nước ta cần bao nhiêu diện tích rừng phòng hộ, khu vực cần giữ rừng phòng hộ, bảo đảm cho công tác phòng, chống thiên tai, bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Từ đó, tiến hành rà soát, đánh giá chất lượng rừng, khoanh định diện tích rừng phòng hộ. Đồng thời, xây dựng quy chế quản lý, sử dụng đối với diện tích 1.100 nghìn ha rừng phòng hộ chuyển sang rừng sản xuất để khai thác, sử dụng hợp lý, vừa bảo đảm mục đích phát triển kinh tế rừng, giải quyết đất sản xuất, ổn định đời sống, nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số, hạn chế di dân tự do vừa góp phần thực hiện chức năng phòng hộ.
Xác định cụ thể quyền tự do báo chí
Thảo luận Luật Báo chí (sửa đổi), các đại biểu đề nghị xác định cụ thể hơn quyền tự do báo chí. Đề cập đến quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí (Chương II), ông Đào Trọng Thi cho biết, đa số ý kiến cho rằng tên Chương II và nội dung của chương chưa chỉ rõ chủ thể của quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí; chưa làm rõ nội dung quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; trình bày thiếu logic và trùng lặp...
Tiếp thu ý kiến đại biểu, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã bổ sung, chỉnh lý tên Chương II thành Quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân và thiết kế lại chương này theo hướng quy định cụ thể quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân (các Điều 10 và 11 Dự thảo Luật); trách nhiệm của cơ quan báo chí, trách nhiệm của Nhà nước đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân (Điều 12,13 dự thảo Luật).
Về Điều 12, Chương II quy định trách nhiệm của cơ quan báo chí đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, đại biểu Hà Minh Huệ (Bình Thuận) cho biết, hằng ngày, các cơ quan báo chí nhận được rất nhiều tin, bài, ý kiến của người dân. Theo quy định của dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi), nếu phải trả lời hết lý do đăng tải hoặc không đăng tải các ý kiến, tin bài này là không khả thi.
Do đó, cần phải xem xét lại quy định nếu không đăng tải thông tin thì phải công bố, trả lời cụ thể cho người gửi. Đồng ý kiến với đại biểu Hà Minh Huệ, đại biểu Nguyễn Thị Kim Thúy (TP. Đà Nẵng) cho rằng, tâm lý chung của người gửi tin, bài lên báo chí là muốn được đăng tải và được phản hồi thông tin. Tuy nhiên, cơ quan báo chí không có đủ nhân lực để đăng tải, phản hồi thông tin cho tất cả những ý kiến được gửi đến tòa soạn. Cho nên, cần xem xét lại điều này sao cho phù hợp với quy định thực tế.
Trước ý kiến cho rằng, nên cho phép tư nhân được thành lập cơ quan báo chí, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, Dự thảo Luật đã dành một chương (Chương II) quy định quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, trong đó quy định cụ thể công dân được tham gia vào mọi công đoạn trong hoạt động báo chí, như sáng tạo tác phẩm báo chí, cung cấp thông tin cho báo chí, phản hồi thông tin trên báo chí, liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí, in và phát hành báo chí.
Ông Đào Trọng Thi khẳng định: Dự thảo Luật đã quy định cụ thể các lĩnh vực tư nhân được liên kết với cơ quan báo chí. Khoản 2 Điều 14 cũng đã cho phép các cơ sở giáo dục đại học, bệnh viện, viện nghiên cứu, trong đó có nhiều cơ sở do tư nhân thành lập được như Tạp chí khoa học. Từ những phân tích này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, quy định như Dự thảo Luật là phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước hiện nay.
Trước ý kiến đề nghị quy định nhà báo trong quá trình tác nghiệp phải được coi là người thi hành công vụ để có cơ chế bảo vệ đối tượng này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, công vụ là hoạt động do cán bộ, công chức nhân danh Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân, của xã hội và được pháp luật bảo vệ. Nhà báo tác nghiệp cũng nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội, nhưng không nhân danh Nhà nước, không đại diện cho Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ của mình, mà hoạt động theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí. "Do vậy, không thể coi hoạt động tác nghiệp của nhà báo là thi hành công vụ", ông Đào Trọng Thi nhấn mạnh.
Theo ông Đào Trọng Thi, về cơ chế bảo vệ nhà báo, phóng viên, Luật Báo chí hiện hành và Dự thảo Luật đều quy định: Nhà báo “được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề nghiệp. Không ai được đe dọa, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo, phá hủy, thu giữ phương tiện, tài liệu, cản trở nhà báo hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật”. Ngoài ra, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự cũng đã quy định hình thức xử phạt đối với những hành vi cản trở nhà báo tác nghiệp như hành hung hay làm thiệt hại tài sản của nhà báo; Nghị định 159/2013/NĐ-CP đã quy định mức xử phạt hành chính cụ thể trong hoạt động báo chí.
Về quyền và nghĩa vụ của nhà báo (Điều 25), có ý kiến đề nghị bổ sung quy định cụ thể về đạo đức nghề nghiệp của nhà báo tại Luật. Về vấn đề này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy dự thảo Luật đã có những quy định về đạo đức nghề nghiệp của nhà báo như hành vi bị cấm trong hoạt động báo chí, các quy định về nghĩa vụ của nhà báo và xử lý vi phạm. Bên cạnh đó, dự thảo Luật cũng đã giao trách nhiệm cho Hội Nhà báo Việt Nam xây dựng quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo. Do vậy, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội cho phép giữ nguyên như Dự thảo Luật.
Việc bảo vệ người cung cấp thông tin cho báo chí cũng có ý kiến khác nhau. Có đại biểu đề nghị không nên yêu cầu tiết lộ người cung cấp thông tin cho việc điều tra xét xử tội phạm nghiêm trọng vì loại tội phạm này rất phổ biến, gây khó khăn cho người làm báo trong việc bảo vệ nguồn tin.
Về vấn đề này, Dự thảo Luật theo đó bổ sung: Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tương đương trở lên có trách nhiệm tổ chức bảo vệ người cung cấp thông tin sau khi tên của họ được tiết lộ; các cơ quan bảo vệ pháp luật có trách nhiệm phối hợp bảo vệ người cung cấp thông tin.
Viết Hà




