Biên phòng - Tổ quốc thiêng liêng tha thiết biết nhường nào. Dù đi đâu, ở đâu hay làm bất cứ việc gì, khi nhắc đến hai tiếng Tổ quốc, mọi con dân Việt Nam đều thiết tha, cháy bỏng tâm can. Để có được hai tiếng Tổ quốc trọn vẹn như hôm nay, “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Lời Bác chính là lời non sông đất nước. “Một tấc không đi - một li không rời”, chủ quyền biên giới có bình yên, Tổ quốc mới được bình yên. Đó là thông điệp luôn thôi thúc trong tâm khảm mỗi người lính Biên phòng đứng gác nơi biên cương Tổ quốc.
![]() |
Vượt qua bao suối sâu vực thẳm để đến được cột mốc. |
Qua lời giới thiệu của Đại tá Nguyễn Trọng Thường, Chỉ huy trưởng BĐBP Hà Tĩnh, chúng tôi cùng với tổ trinh sát thực hiện chuyến “Tây du”, ngược ngàn lên vùng biên giới Việt - Lào, nơi lực lượng cắm mốc của cả hai nước đang chuẩn bị cắm điểm cột mốc biên giới cuối cùng cho kịp đón xuân. Do đường lên biên giới gồ ghề, đèo dốc, vực thẳm, ngồi trên chiếc U-óat nhiều lúc cứ tưởng như hất tung người ra khỏi thùng xe. Đến dốc Vũ Quang, nơi còn lại ký ức một thời oanh liệt của Tướng quân Phan Đình Phùng trấn giữ biên ải, rồi qua cầu Mạn Chạn, sang bản Cò là hết đường lui tới, bởi trước mặt là cả một ngọn núi dựng đứng như chia cắt ngang trời. Đoàn tạm nghỉ chân, đợi trinh sát định hướng để tiếp tục “cuốc bộ”. Chỉ sau mấy phút, Đại tá, Tham mưu trưởng Nguyễn Huy Trung, chỉ huy chuyến đi này cũng là chỉ huy của cả đợt cắm mốc) phát lệnh “vượt rừng”. Thế là cả đoàn lỉnh kỉnh tay xách, nách mang, nào gạo, nào nước, lương khô, bánh mỳ… theo hướng ngược rừng mà đi.
Vừa hành quân được một quãng, chiến sĩ trẻ đi cạnh tôi nói nhỏ: “Nhà báo chuẩn bị tinh thần để lội bộ 4 ngày đêm ròng rã đó”. Nghe chuyện phải lội rừng 4 ngày đêm, tôi cũng thấy hơi lo, nhưng tinh thần vẫn hăng hái bởi đích của chuyến đi là cột mốc 496 - cột mốc duy nhất còn lại ở độ cao hơn 2.200m, thuộc địa phận xã Hương Quang, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đó, các chiến sỹ Biên phòng Việt Nam và Biên phòng Lào đang mong đoàn lên để tiến hành lễ ký kết cắm cột mốc cuối cùng giữa 2 nước Việt - Lào. Mặc dầu đèo cao, suối sâu, vực thẳm, thời tiết ở Trường Sơn lúc mưa, lúc nắng, sên vắt bám đầy chân tay, quần áo ướt rồi lại khô, khô rồi lại ướt, nhưng may có mấy anh lính trẻ thỉnh thoảng lại cất lên tiếng hát làm “liều thuốc tinh thần” cổ vũ mọi người bấm chắc chân để vượt dốc.
Đêm Trường Sơn lạnh thắt da, thấu thịt. Chúng tôi phải cắm lán, đốt lửa trại ngủ giữa rừng. Đại tá Trung kể về chuyện cắm mốc biên giới xưa và nay cho tôi nghe: Năm 1977, hai nước Việt Nam – Lào bắt đầu hoạch định cắm mốc phân ranh giới giữa hai nước với chiều dài trên 2.067km. Mốc đầu tiên được xuất phát từ ngã ba biên giới Việt, Trung, Lào, thuộc tỉnh Điện Biên. Hệ thống cột mốc từ đó kéo dài qua các tỉnh biên giới, đến Hà Tĩnh rồi vào các tỉnh miền Trung. Mốc đầu tiên ở Hà Tĩnh được cắm tại khu vực biên giới xã Sơn Hồng, giáp với tỉnh Bô-ly-khăm-xay (Lào).
Thực hiện kế hoạch tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc giới của Ủy ban Liên hiệp phân giới cắm mốc Việt Nam – Lào, cuối năm 2008, lực lượng hai nước thực hiện công tác chuẩn bị, đến đầu năm 2009, các cột mốc lần lượt được cắm xuống. Sau gần 5 năm băng rừng lội suối, cơm đùm, cơm nắm, trên khắp biên giới của tỉnh, đến nay, lực lượng cắm mốc hai bên đã khảo sát, cắm được 53/54 mốc trên thực địa, từ mốc 463 đến mốc 515, với tổng chiều dài hơn 145km, giáp với 2 tỉnh Khăm Muộn và Bô-ly-khăm-xay (Lào). Trong số 54 mốc, có 53 mốc chính và 1 mốc phụ đặt ở xã Sơn Hồng, huyện Hương Sơn. Dự kiến, mốc phụ này cũng sẽ hoàn tất trước Tết cổ truyền dân tộc.
Những ngày đầu bắt tay vào thực hiện, Đội cắm mốc gặp rất nhiều khó khăn do điều kiện địa hình phức tạp, rừng núi hiểm trở, độ dốc lớn. Đặc biệt, nhiều vị trí mốc ở dốc Bà Mụ, giáp xã Sơn Hồng, Sơn Kim 2 huyện Hương Sơn, hay ở các dốc thuộc xã Hương Quang, huyện Vũ Quang… đều nằm ở độ cao trên 1.600m, có những vị trí cao trên 2.200m, chưa có đường đi lại, xa dân cư nên anh em phải sử dụng đường đi từ phía nước bạn mới tiếp cận được. Trong khi công việc còn ngổn ngang, một bộ phận lại phải rút vào giúp đội Quảng Bình 6 tháng nên công việc phần nào bị ảnh hưởng, số anh em còn lại phải bám trụ ở những điểm xung yếu. Mặc dầu khó khăn chồng lên khó khăn, nhưng nhờ được sự quan tâm của các bộ, ngành Trung ương và lãnh đạo 3 tỉnh nói trên nên nhiệm vụ cắm mốc của đội Hà Tĩnh vẫn về đích sớm nhất so với toàn tuyến.
Suốt 3 ngày trải nghiệm thực tế, tôi đã được tận mắt chứng kiến cảnh vật núi rừng thiên nhiên hùng vĩ và con người thân thương biết nhường nào. Tuy cột mốc chúng tôi cần đến chỉ còn cách xa chưa đầy nửa ngày đường bộ nữa, nhưng lúc này, hoàng hôn bắt đầu buông xuống nên cả đoàn phải tiếp tục ngủ lại giữa rừng.
Theo thường lệ, qua một đêm nghỉ ngơi, sáng hôm sau, cả đoàn đều đón nhận được lời động viên cổ vũ của vị Đại tá, Tham mưu trưởng: “Anh em cố nữa lên, chỉ còn nửa ngày đường nữa là tới mốc 496 rồi đó”. Tôi linh cảm, trong lời động viên của Đại tá Trung có điều gì đó như nhắc mọi người phải cẩn thận trong từng đường đi nước bước, bởi trước mắt là dốc đá hiểm trở, nếu không cẩn thận, lỡ trượt chân ngã xuống, những mỏm đá tai mèo nhọn hoắt như những mũi đao chọc trời ấy sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng. Thật lòng mà nói, về kinh nghiệm đi rừng, có lẽ đối với một nhà báo như tôi cũng chẳng thua kém gì các chiến sỹ Biên phòng là mấy. Khi cả đoàn trèo qua được phiến đá tai mèo hiểm trở, ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm, dừng lại mấy phút để hoàn hồn. Ngước mắt nhìn lên phía trước vẫn là những mỏm đá tai mèo dựng đứng. Phía dưới là vực sâu thăm thẳm. Trèo lên tụt xuống hàng chục lần, người trước nắm tay người sau, cuối cùng đoàn chúng tôi cũng chạm đích cột mốc kỳ bí nhất. Chưa kịp thở phào xả hơi thì toàn bộ anh em bám trụ từ lâu ở đây đã ùa ra ôm chầm lấy chúng tôi tay bắt mặt mừng.
Chúng tôi xúm quanh bên cột mốc, Thượng úy Cao Hữu Hóa nhớ lại những ngày đầu vất vả, gian nan, khi đi khảo sát thực địa. Thượng úy Hóa kể: Khi tiếp nhận chỉ đạo khảo sát cột mốc này, tổ công tác của chúng tôi gồm chục cán bộ, chiến sỹ, khảo sát xong vị trí đặt mốc, trên đường trở về, gặp phải một cơn lũ bất thường, đúng lúc này, toàn bộ lương thực mang theo đã cạn kiệt, anh em phải nhờ vào sự cứu tế của nhân dân địa phương. Lương thực cứu tế chỉ có mì tôm, lương khô, bánh mì. Sau hơn 5 ngày nước rút, cả đoàn tiếp tục lên đường, trở về đơn vị an toàn.
![]() |
Lực lượng bảo vệ biên giới hai nước Việt - Lào gặp nhau trên đỉnh Trường Sơn. |
Đội trưởng Đội cắm mốc tỉnh Sa-vẳn-na-khệt Xóm Văng Bun Nã Phay nói với chúng tôi: “Các bạn Việt Nam có biết không, tại điểm này có độ cao nhất biên giới giữa Lào và Việt Nam đó. Người Lào bây giờ cũng mới đến đây lần đầu. Đứng ở độ cao này, phóng tầm mắt thật xa để chiêm ngưỡng cả hai đất nước Lào-Việt thật bao la hùng vĩ”. Thượng úy Hóa tiếp lời: “Rất may cho đoàn là mang theo được ít thức ăn, nước uống, chứ ở độ cao này, nấu cơm không thể chín, anh em bám trụ ở đây, hàng ngày phải xuống núi mới có cơm ăn”.
Được biết, để cắm được cột mốc vào nơi quy định này, cả phía Bạn và ta phải trăn trở lên xuống, đi lại rất nhiều lần nhằm đối chiếu tọa độ, hoàn chỉnh hồ sơ pháp lý, nhất là việc vận chuyển cột mốc. Quá trình vận chuyển phải mất gần 2 tháng trời, biết bao gian nan vất vả. Cho đến khi cột mốc hiển diện đứng ngạo nghễ ở độ cao trên 2.200m, ai nấy mừng vui khôn xiết.
Trước lúc cắm mốc, đoàn bạn và đoàn ta phải dùng máy định vị GPS gắn vào đầu cột mốc, đo bằng định vị vệ tinh toàn cầu, kiểm tra mọi thông số kỹ thuật đến hàng tiếng đồng hồ. Tôi nhớ mãi phút giây thiêng liêng nhất, khi Quốc ca của 2 nước Việt – Lào được cất lên giữa núi rừng bao la hùng vĩ khiến mọi người không thể cầm lòng được. Sau Quốc ca là những mẻ bê tông được trộn đều đổ xuống. Đại diện cho Tổ quốc Việt Nam là Đại tá, Tham mưu trưởng Nguyễn Huy Trung; đại diện phía nước bạn Lào là Trung tá Xóm Văng Bun Nã Phay đổ mẻ bê tông đầu tiên xuống cột mốc, như bồi đắp thêm mối tình hữu nghị keo sơn anh em của nhân dân hai nước Việt - Lào.
Tạm biệt núi rừng Trường Sơn hùng vĩ, trên đường chúng tôi về lại miền xuôi, cũng là lúc cả núi rừng vạn vật cây cối đang e ấp những chồi non, lộc biếc, báo hiệu một mùa xuân mới lại về.








