Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 01:01 GMT+7

"Núi cao sự nghiệp càng cao"

Biên phòng - "Đoàn kết cảnh giác/ Liêm chính kiệm cần/ Hoàn thành nhiệm vụ/ Khắc phục khó khăn/ Dũng cảm với địch/ Vì nước quên thân/ Trung thành với Đảng/ Tận tụy với dân" - Lời huấn thị của Bác Hồ, vị cha già dân tộc đã nâng bước chân biết bao người chiến sĩ qua vách đá tai mèo, qua rừng dày sương lạnh. Mùa xuân năm 1959 lưu một mốc son đáng nhớ trong đường lối chiến lược của Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia và cũng là mốc son về sự ra đời của lực lượng Công an nhân dân vũ trang gắn bó với miền biên giới, hải đảo xa xôi của Tổ quốc.

570x432_8-1.bmp
Xây dựng đồn, trạm, tìm dân lập bản thiết lập vành đai biên giới. Ảnh: Tư liệu
Mùa xuân ấy đã bắt đầu cuộc hành trình đầy gian nan, thử thách của hàng vạn chiến sĩ từ các lực lượng quân đội, công an hợp thành. Họ đã gác lại những riêng tư để đến với những bản làng còn nhiều khó khăn lạc hậu trên các đỉnh núi mù sương, vượt trùng dương để cập bến những hòn đảo hoang vu vắng dấu chân người, thực hiện nhiệm vụ nòng cốt, chuyên trách, xây dựng, quản lý và bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới Tổ quốc.

Chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị là: "Trong lúc tiến hành xây dựng phải đảm bảo công tác" và Nghị quyết của Hội nghị Công an nhân dân vũ trang (CANDVT) lần thứ I yêu cầu toàn lực lượng phải thường trực chiến đấu. Ngay sau khi được thành lập, CANDVT khẩn trương củng cố và hoàn thiện bộ máy tổ chức từ Trung ương đến các đồn, trạm trên các tuyến biên giới Việt - Trung, Việt - Lào, giới tuyến quân sự tạm thời, dọc theo bờ biển và các mục tiêu quan trọng trong nội địa thuộc 33 khu, tỉnh, thành miền Bắc và Thủ đô Hà Nội. 

Đại tá Nguyễn Xuân Đài, nguyên Cục phó Cục Tham mưu, CANDVT cho biết, tháng 4-1959, Bộ Công an ra các nghị định chính thức thành lập các Cục Tham mưu, Chính trị, Trinh sát, Hậu cần trực thuộc Ban Chỉ huy CANDVT Trung ương và các đơn vị bảo vệ Hà Nội - E254, đơn vị bảo vệ Trung ương - E600, Tiểu đoàn Cơ động 12, Thủy đội 18... Theo đó, Ban Chỉ huy CANDVT Trung ương là cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo cao nhất và số 4 Đinh Công Tráng (Hà Nội), doanh trại Sư đoàn 350 trở thành cơ quan đầu não của Ban Chỉ huy CANDVT Trung ương. Tiếp theo, lần lượt hệ thống các nhà trường, các đơn vị chuyên môn kỹ thuật, đội chiếu bóng, đoàn văn công, cơ quan báo chí... cũng dần được hình thành. Đến giữa năm 1959, toàn lực lượng đã có hệ thống tổ chức, chỉ huy thống nhất, tương đối hoàn chỉnh từ Trung ương đến địa phương. Việc điều hành công tác bảo vệ, chiến đấu trên các tuyến biên giới cũng như nội địa bắt đầu đi vào nề nếp.

Trên thao trường, những năm đầu thành lập ấy đã diễn ra biết bao hoạt động huấn luyện quân sự, rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật biên phòng. Những màn trình diễn hấp dẫn, điêu luyện của các đơn vị cơ sở như bắn súng quân dụng các loại, bơi đường dài, vượt chướng ngại vật tổng hợp cùng những kỹ, chiến thuật riêng của lực lượng CANDVT như điều khiển ngựa chiến, chim đưa thư, cảnh khuyển... hay các pha võ thuật, vượt tường lửa, đu dây ngoạn mục.

Cùng với đó, các phong trào vận động nhân dân tham gia bảo vệ biên cương Tổ quốc, phong trào văn hóa quần chúng ở cơ sở, phong trào "Tận trung với Đảng, tận hiếu với dân" được Cục Chính trị và các đơn vị triển khai mạnh mẽ và nhân rộng. Đại tá Nguyễn Ngọc Châu, nguyên Cục trưởng Cục Chính trị CANDVT đã rất xúc động khi nhắc về những hoạt động xung kích trên mặt trận chính trị của các đơn vị ngày ấy. Tờ "Bản tin CANDVT" - tiền thân của báo Biên phòng ngày nay ra đời sau ngày thành lập lực lượng chỉ hơn một tháng, đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của cán bộ, chiến sĩ CANDVT thời kỳ ấy.  Các đội chiếu bóng,  Đoàn văn công CANDVT cũng phát huy tinh thần xung kích, vượt núi cao vực sâu, vượt vòng kiềm tỏa của địch để đưa văn hóa thông tin, lời ca tiếng hát đến với đồng chí, đồng đội và bà con trên biên giới, hải đảo và giới tuyến quân sự tạm thời.

Ở các địa bàn vùng sâu, vùng cao biên giới, thời tiết khắc nghiệt, giao thông khó khăn, công tác đảm bảo còn nhiều thiếu thốn. Cán bộ, chiến sĩ CANDVT đã phát huy tinh thần chủ động, tự lực cánh sinh, dùng vật liệu tại chỗ xây dựng doanh trại, nhanh chóng ổn định nơi ăn, chốn ở để triển khai công tác. Từ trong gian khó, lòng người thêm bền gan vững chí. Sự chăm lo tổ chức, giáo dục và sự quan tâm sâu sát về mọi phương diện của Đảng và Nhà nước là nguồn động viên lớn lao đối với cán bộ, chiến sĩ, cổ vũ các anh hăng hái thi đua hoàn thành nhiệm vụ. Từ vùng đất Mường Tè heo hút đến dãy Tây Côn Lĩnh quanh năm mây phủ; từ đỉnh Mã Pí Lèng cực Bắc xuôi phương Nam đến Phùng Khen, Cà Ròn, Nước Sốt... ở đâu cũng có dấu chân những người chiến sĩ quân hàm xanh. Nơi đầu nguồn Đà Giang lục thủy, Hồng Hà thắm đỏ phù sa hay sông Mã kiêu hùng, Sê Păng Hiêng nước bạc lại rộn ràng tiếng vó ngựa tuần tra. 180 đồn, trạm biên phòng, giới tuyến dệt thành một vành đai xanh vững vàng bao quanh miền Bắc; 308 mục tiêu bảo vệ chốt chặt ở những vị trí trọng yếu trong nội địa, góp phần bảo vệ vẹn toàn miền Bắc, bảo vệ tuyệt đối an toàn Trung ương Đảng, Chính phủ trước những âm mưu phá hoại của kẻ thù.

Thời điểm ấy, toàn bộ khu vực biên phòng miền Bắc dài 3.400km còn vắng vẻ, hoang sơ. Bọn tàn quân phỉ và bọn phản cách mạng lợi dụng tình hình rừng núi hiểm trở lừa bịp nhân dân, kích động chia rẽ các dân tộc, xúi bẩy bà con chống phá cách mạng. Nhiệm vụ của CANDVT lúc này là nhanh chóng ổn định tình hình chính trị, an ninh trên các tuyến biên phòng. Cán bộ, chiến sĩ CANDVT đã bám dân, tiến hành công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị, tuyên truyền giáo dục tinh thần cảnh giác, không nghe theo luận điệu lôi kéo của bọn phản động, không tham gia phỉ..., vận động nhân dân định canh, định cư, xây dựng hợp tác xã, xây dựng đời sống mới.

Bà Chu Chà Me, người phụ nữ Hà Nhì đầu tiên đã vượt qua bao định kiến để vượt núi cao, vượt dòng Păng Pơi về xuôi học chữ vẫn mãi không quên những ký ức về Anh hùng liệt sĩ Trần Văn Thọ - người con của đồng bào Hà Nhì nơi ngã ba biên giới. Năm 1959, anh được phân công tiếp tục công tác vận động quần chúng tại địa bàn Leng Su Sìn, A Pa Chải... Ngày ấy, người Hà Nhì còn vô cùng lạc hậu, đói nghèo và nghiện thuốc phiện. Cuộc sống lại càng cơ cực hơn khi thổ phỉ nổi lên ở khắp nơi giết hại nhân dân. Sau khi vận động phỉ ra hàng, anh Thọ đã kiên trì bám địa bàn, bám dân; cùng ăn, cùng ở, cùng làm với đồng bào. Anh dành dụm từng đồng phụ cấp ít ỏi của mình rồi đi bộ leo núi suốt hai tháng trời về xuôi gùi cái cày và hạt giống lúa nước lên dạy bà con làm ruộng, kêu gọi bà con định canh định cư trồng lúa nước.

"Anh hùng như Nguyễn Văn Trỗi, dũng cảm như Nguyễn Viết Xuân, tận tụy với dân như Trần Văn Thọ" - Khẩu hiệu ấy đã luôn vang lên trong suốt hành trình chống Mỹ của những người chiến sĩ. Người anh hùng đầu tiên của lực lượng BĐBP ấy đã ngã xuống, sau khi cống hiến cả tuổi thanh xuân cho sự bình yên, no ấm của núi rừng biên cương. 55 năm qua, mỗi ngọn núi, mỗi cánh đồng và rất nhiều thứ thiêng liêng của vùng Ngã ba biên giới này đã mang tên anh để tỏ lòng tri ân với người đã xây nền móng cho cuộc sống mới của người Hà Nhì hôm nay.

Cũng trong thời gian này, cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh Tổ quốc ở vùng biên giới miền Tây Thanh Hóa lại diễn ra dưới một hình thái khác. Các trinh sát biên phòng đã kịp thời phát hiện và phá thành công hàng chục vụ án, bóc gỡ nhiều đường dây, ổ nhóm của bọn phản động được cài cắm trên biên giới để gây phỉ, gây bạo loạn chống phá chính quyền cách mạng. Trên vùng rẻo cao Pù Nhi quanh năm mây phủ, những cán bộ vận động quần chúng đã vượt núi, băng rừng đi tìm người dân về lại bản xưa, cùng nhau gây dựng cuộc sống mới. Từ những bản làng hoang vu vắng bóng người, chưa đầy một năm sau, Pù Nhi ấm bản, no mường với những cánh đồng cho bông lúa mẩy, có kênh thủy lợi dẫn nước về đồng, cho điện thắp sáng, có chính quyền xã và chi bộ Đảng. 9 dòng họ của người Mông ở Pù Nhi đều tin theo các anh, tình nguyện bám bản, bám đường biên, tham gia tập luyện dân quân tự vệ để bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Nơi đầu nguồn sông Mã, những người lính CANDVT cũng lập nên những chiến công vang dội. 10 năm lăn lộn trên vùng đất khó, Nguyễn Đình Thử cùng biết bao đồng đội đã chân mài đá sắc, lòng tin dẫn lửa vào tận hang ổ của những kẻ chủ mưu quấy rối để đấu tranh, thuyết phục họ quay về với nhân dân, với chính nghĩa. Từng lời nói ân cần, từng việc làm tận tụy của các anh như nước lành lan tỏa, có sức cảm hóa bao người. Bà con thuận tình định cư ở bản mới, đoàn kết không theo phỉ và hăng hái tham gia cùng các anh tuần tra biên giới, giữ vững trật tự an ninh. Năm 1967, Nguyễn Đình Thử được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Trên giới tuyến quân sự tạm thời, cuộc đấu tranh chính trị và pháp lý đòi đối phương tôn trọng Quy chế khu phi quân sự đã đi vào nề nếp, đảm bảo an ninh và sinh hoạt ổn định cho người dân hai bên bờ sông Bến Hải. Phát huy tinh thần cảnh giác, các chiến sĩ giới tuyến đã phát hiện và bắt giữ 22 tên gián điệp Mỹ - Diệm tung sang bờ Bắc, chặn bắt 7 tên phản động âm mưu vượt tuyến vào Nam. Lá cờ đỏ sao vàng vẫn tung bay như vẫy gọi nhân dân miền Nam thêm tin tưởng và hy vọng về một ngày thống nhất.

Có thể nói, trong những năm đầu thành lập, CANDVT đã phát huy được ưu thế của một lực lượng thống nhất, tăng cường sức mạnh trấn áp phản cách mạng, hoàn thành nhiệm vụ xây dựng lực lượng, bảo vệ biên giới và các mục tiêu nội địa. Đồng thời, đạt được yêu cầu của Bộ Chính trị đề ra trong Nghị quyết 58 là: "Hợp lý về tổ chức, thống nhất nhiệm vụ, phối hợp chặt chẽ". Trong hoàn cảnh vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng vững mạnh, các đơn vị không ngừng nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, chịu đựng gian khổ hy sinh, đẩy mạnh xây dựng đơn vị và tích cực triển khai các phong trào thi đua trong công tác, chiến đấu và xây dựng đồn, trạm. Những người lính quân hàm xanh dù ở giới tuyến quân sự tạm thời, biên giới, bờ biển hay nội địa đều thể hiện quyết tâm tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, xứng đáng với lời dạy của Bác Hồ: "Non xanh nước biếc trùng trùng/ Giữ gìn Tổ quốc ta không ngại ngùng gian lao/ Núi cao sự nghiệp càng cao/ Biển sâu chí khí ta so vào càng sâu/ Thi đua ta quyết giật cờ đầu".
Tuệ Lâm

Bình luận

ZALO