Biên phòng - Nghe tiếng chân ngoài sân, bà Út dõi đôi mắt mù lòa ra trước nhà hỏi: “Con đem cơm xuống cho nội hả?”. Mấy chục năm qua, các chiến sĩ Đồn BP Bình Đông, BĐBP Quảng Ngãi luôn chăm lo cho bà Út. Các chiến sĩ gọi bà Út là “bà nội”.
“Cây mít ở đồn ra trái chưa con?”
Xóm 2, thôn Sơn Trà, xã Bình Đông, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi nằm cạnh nhà máy đóng tàu Dung Quất. Đây là một làng chài êm đềm trong cảnh tàu thuyền hàng ngày ra khơi và trở về tấp nập cá, tôm. Năm 1975, Đồn Công an vũ trang Bình Đông được thành lập, người dân làng chài này bắt đầu quen thuộc với hình ảnh bà Út chăm lo cho anh em chiến sĩ như con cái trong gia đình của mình.
Thời đó, làng biển này trở nên vui hơn khi mỗi chiến sĩ đến đây đều xuất thân từ một miền quê xa xôi tận phương Nam và đất Bắc. Mỗi chiến sĩ kể một câu chuyện lạ và Đại úy Nguyễn Quang Xà, Đồn phó Trinh sát, quê tận đất Bắc, thường kể chuyện 36 phố phường Hà Nội. Lũ trẻ trong làng chăm chú lắng nghe và tưởng tượng xứ sở xa xôi như trong chuyện Nghìn lẻ một đêm mà chúng chưa từng đặt chân đến.
![]() |
| "Bữa cơm chiến sĩ" của bà Út. |
Bà Út tên là Nguyễn Thị Anh, năm nay 78 tuổi. Ở cái tuổi này, như người khác được con cháu hàng ngày chăm sóc cho từng miếng cơm, giấc ngủ. Tuy nhiên, bà Út sống cô quạnh, không con, không chồng, không người thân. Vậy nên, người thân của bà Út giờ là các chiến sĩ biên phòng. Mỗi tháng bà Út được địa phương cấp 180 nghìn đồng tiền trợ cấp khó khăn.
Thời gian thấm thoắt trôi qua, mới đó mà đã hơn 35 năm. Bà Út đã đến tuổi về già. Lưng bà còng xuống như khóm tre bên hiên, mái tóc bạc phơ vì mòn mỏi theo ngày tháng. Sau một trận ốm, đôi mắt bà Út tự nhiên bị mù. Có người bảo, khi bà Út 5 tuổi, bà Thới Thị Kiệt - mẹ ruột của bà Út mất. Ngày nào bà Út cũng ra hiên khóc nhớ mẹ, đôi mắt buồn u uẩn khiến bà Út sớm bị mù khi đã về già.
“Cây mít ở đồn nó ra trái chưa con? Dạo này trên đồn nuôi mấy con lợn vậy con? …”. Đôi mắt bị mù, sống trong ngôi nhà nhỏ nằm bên hốc núi Sơn Trà, bà Út cảm nhận cuộc sống diễn ra xung quanh bằng đôi tay và những âm thanh lào xào. Nghe tiếng anh em BĐBP, bà lại ngước mặt ra cửa, hỏi.
Bữa cơm chiến sĩ
Đồn biên phòng thì hết lớp người này chuyển đi lại đến lớp người khác chuyển về. Thời mới giải phóng, chỉ huy đơn vị gọi bà Út bằng cô, bằng chị. Còn giờ đây, lớp lính trẻ gọi bà Út bằng bà nội: “Nội ơi, tới giờ ăn cơm rồi… Tối ngủ nội có nhớ ông không?”.
“Cha mày, nội làm gì có ông” - Bà Út trả lời. Đó là câu chuyện vui giữa bà Út và các chiến sĩ. Thời thanh niên xung phong, còn là một cô gái trẻ, Út quen với anh Minh, quê ở cù lao bên cạnh. Chưa được bao lâu, anh Minh hy sinh, Út ở một mình, thao thức như một cù lao cô quạnh cho đến tận bây giờ.
Ngày nào cũng vậy, cứ đến bữa cơm, một chiến sĩ lại bê xuống cho bà Út một phần. Chiến sĩ ăn gì, bà Út ăn nấy. Bà Út như một người lính đang hưởng chế độ tại đồn biên phòng. Cuộc sống của người lính bây giờ đã đỡ kham khổ, phần ăn của bà Út cũng được cải thiện hơn. Bữa nào cũng có cá, rau, thịt, thỉnh thoảng lại có thêm món thịt gà, thịt vịt được xào nấu thơm phức. Ngày tết, anh em mang xuống cho bà Út một phần bánh kẹo, hoa quả.
Cuộc đời của bà Út luôn gắn với hình ảnh người chiến sĩ. Thời trẻ, hàng ngày đi chợ, Út lẻn qua bờ sông thật sớm. Canh đó, anh em du kích bắt cá, tôm nhờ Út gánh ra chợ bán. Bán hết gánh cá, Út mua lương thực quảy quả trở về, nhét vào cạnh lùm cây. Anh em du kích ra lấy về cho cả đội du kích ở Sơn Trà. Chuyện cô Út gánh cả gánh cá đầy ra chợ rồi cũng bị đám lính phát giác. Đám lính biệt động quân bắt Út qua đồn nhốt một đêm nhưng không khai thác được gì. Vậy là bọn lính gông Út lại, châm điện, đổ nước vôi vào mũi. Mỗi lần châm điện, Út lại ngã vật xuống ngất xỉu, đầu óc quay cuồng.
Ngày giải phóng, Út cũng đã quá tuổi lập gia đình. Vậy là hàng ngày chị Út chăm lo cho mấy đứa em Công an vũ trang (BĐBP ngày nay). Đơn vị nhận gạo về, chị Út lên sàng sảy cho sạch thóc, mọt. Út trở thành người chị, người cô của anh em chiến sĩ. Anh em đau ốm, chị Út nấu lá xông, đi hái thuốc nam về điều trị thêm. Thỉnh thoảng Đại úy Nguyễn Quang Xà, ghé xuống gửi cho chị Út món quà vợ anh từ ngoài Bắc gửi vào. Hai chị em quý nhau lắm. Mấy chục năm quân ngũ, anh Xà dự định khi về hưu sẽ chia tay Út và làng chài Sơn Trà để quay về miền Bắc sống với gia đình.
Đời bà Út có mấy lần khóc hết nước mắt. Hồi nhỏ khóc người mẹ, tuổi thanh xuân khóc người yêu đầu tiên hy sinh không trở về, khóc người cha qua đời. Và một niềm đau nhói với Út, đó là khóc người em của mình - Đại úy Nguyễn Quang Xà. Đó là năm 1992, tàu đánh cá của Trung Quốc xâm phạm vùng biển Việt Nam. Anh Xà còn vài ngày nữa là nghỉ hưu. Vậy nhưng, Đại úy Nguyễn Quang Xà vẫn dẫn anh em đi làm nhiệm vụ trên biển. Và đó chính là chuyến đi không bao giờ trở lại.
Suốt 20 năm qua, cứ tới ngày rằm bà Út lại mua nải chuối, thắp hương cúng người em của mình. Ngày rằm trăng sáng vằng vặc, bà lại mơ thấy người em trở về, áo ướt sũng. “Nó về rồi lại đi liền” - Bà nói.
“Nội ơi, tới giờ ăn cơm”, chiến sĩ công vụ mang cơm trưa xuống cho bà Út, căn nhà Đại đoàn kết dường như ấm lên bởi tình quân dân. Năm 2003, Đồn BP Bình Đông giải thể, tất cả tập trung về Đồn BP Cửa khẩu cảng Dung Quất cách đó vài cây số. Những ngày đó, bà Út buồn nao lòng. Thỉnh thoảng, anh em lại chở lên cho bà Út bao gạo và gửi cho bà ít tiền. Ngày 19-8-2011, Đồn BP Bình Đông được tái thành lập, vậy là hàng ngày, các chiến sĩ lại chạy xuống thăm hỏi và gọi bà Út bằng những từ thân mật: “Bà nội ơi!”. Có hôm, anh em mang cơm xuống, chỉ huy đơn vị đi theo để thăm hỏi và động viên bà Út. “Nội ơi, ăn được không, cố gắng ăn nhiều để sống lâu với bộ đội”.
Ngôi nhà nằm bên hốc núi lại ấm lên tình quân dân.






