Biên phòng - Trên chiếc giường đơn sơ đặt tại góc căn nhà nhỏ ở xóm núi Pò Háng (xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng), thầy giáo Hà Văn Đồng, người cựu chiến binh BĐBP đang phải chiến đấu với căn bệnh quái ác. Nhưng với phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", anh đã vượt qua bệnh tật, ngày ngày ươm những mầm xanh cho tương lai bằng việc dạy tiếng Trung cho những học sinh nghèo khó vùng biên.

Chúng tôi đến thăm thầy giáo Hà Văn Đồng, nhìn gương mặt hốc hác, đôi tay gầy guộc do bệnh tật hành hạ, nhưng trong ánh mắt thầy vẫn ẩn chứa niềm lạc quan và sự say mê đối với công việc dạy tiếng Trung cho các em nhỏ nơi vùng cao biên giới. Suốt 25 năm qua, mặc dù bị căn bệnh quái ác hành hạ, nhưng anh vẫn say sưa giảng bài cho các em học sinh, tận tình chỉ bảo cho các em từng nét chữ, từng cách phát âm. Bục giảng của thầy là chiếc giường cùng với những giáo án, sách dạy tiếng Trung và những tác phẩm "kinh điển" nguyên bản tiếng Trung. Trong phút giải lao giữa thầy và trò là chuỗi dài câu chuyện về cuộc đời anh chia sẻ với chúng tôi.
Thầy giáo Hà Văn Đồng sinh năm 1958. Với ước mong trở thành chiến sĩ biên phòng để góp sức bảo vệ từng tấc đất nơi biên cương của Tổ quốc, năm 1976, anh xung phong lên đường nhập ngũ, nhận nhiệm vụ tại Đồn BP Nặm Quét (nay là Đồn BP Cô Ba, BĐBP Cao Bằng). Sau khóa huấn luyện, anh được đơn vị cử đi học tiếng Trung tại trường Đại học Ngoại ngữ Quân đội. Cuối năm 1978, anh trở về Đồn BP Nặm Quét công tác với cấp bậc trung sĩ.
Nhưng rồi, do bị căn bệnh đau cột sống, chữa trị mãi không khỏi, sức khỏe ngày càng giảm sút, không thể tiếp tục công việc được. Năm 1980, anh được đơn vị cho phục viên, cũng từ thời điểm đó, đôi chân rắn rỏi từng băng rừng, lội suối trong những đêm dài chiến đấu của anh, không còn đi lại, sinh hoạt bình thường, khiến cuộc đời còn lại của anh gắn chặt với chiếc giường, mọi sinh hoạt, ăn uống hàng ngày đều do cha mẹ già chăm sóc. Hơn 20 năm qua, cha mẹ chắt chiu từng đồng tiền ít ỏi để lo chữa bệnh cho anh, nhưng đôi chân anh vẫn bị liệt, không cử động được, có lúc anh cảm thấy vô vọng với cuộc sống thực tại.
Bản lĩnh người lính Biên phòng
Với bản lĩnh của người lính biên phòng, anh quyết tâm không để cuộc đời mình phải sống những ngày tháng vô nghĩa. Anh tâm sự: "Năm 1989, khi tôi nằm trên giường, nhìn qua cửa sổ, thấy cảnh các em nhỏ trong những ngày nghỉ hè nô đùa với nhau, không có ai trông nom. Vì vậy, tôi lóe lên ý nghĩ, đem vốn kiến thức của mình truyền thụ cho các em, nên tôi đã gọi một số em vào và hỏi các cháu có thích học tiếng Trung Quốc không? Thế là trong số đó có một vài em nói thích và muốn học môn tiếng Trung".
Từ đó, anh xin phép gia đình được dạy tiếng Trung miễn phí cho các em nhỏ trong làng. Được gia đình ủng hộ, anh bắt đầu làm thầy giáo từ đó, trong nhà anh đầy ắp tiếng cười nói của các em nhỏ đến học. Nhưng khổ nỗi, anh không ngồi dậy được, chiếc giường được kê giữa nhà, các em học sinh ngồi vây quanh, anh hướng dẫn các em cách phát âm, học từ vựng, ngữ pháp, câu...
Đến bây giờ, 3 em học sinh đầu tiên của thầy Đồng cũng đã trưởng thành và xây dựng sự nghiệp riêng. Trong đó, chị Nguyễn Thị Thu, sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, đã thi đỗ vào trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, khoa Tiếng Trung và hiện nay đang công tác tại Công ty Cổ phần Gang thép Cao Bằng. Chị Thu tâm sự: "Những hình ảnh của thầy không bao giờ phai mờ trong tâm trí của tôi. Hình ảnh thầy nằm trên giường, chỉ cho chúng tôi từng câu, từng nét chữ, đã khiến tôi rất xúc động và tự nhủ phải cố gắng học tập tốt, để không phụ tấm lòng của thầy. Ở trường phổ thông trung học, tôi không được học ngoại ngữ tiếng Trung, nhưng những ngày tháng học với thầy, tôi đã tự tin thi vào trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, khoa Tiếng Trung và tôi đã thành công…".
Mặc dù hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, bản thân lại bị bệnh tật, nhưng từ năm 1989 đến nay, anh Hà Văn Đồng vẫn dạy học miễn phí, không lấy tiền của các em học sinh. Theo suy nghĩ của anh, niềm vui và thành công của học sinh, tiền cũng không thể sánh nổi. Anh tâm sự: "Quê mình nghèo khó, các em đến học, sau này nếu không vào được các trường đại học, cao đẳng, các em vẫn có vốn ngoại ngữ để giao dịch tại các cửa khẩu biên giới, tìm việc làm trong xu thế hội nhập với nước ngoài để lo toan cho cuộc sống gia đình".
Từ những thành công ban đầu, với sự tận tụy dạy bảo của thầy Đồng, "tiếng lành đồn xa", học sinh của thầy ngày càng đông lên. Nhiều em từ các huyện lân cận như Thông Nông, Bảo Lạc, Hòa An, Trà Lĩnh, thậm chí có cả học sinh từ Bắc Kạn vượt hơn 200 cây số đến học với thầy. Học trò cao tuổi nhất của thầy là ông Lý Đông Thắng, năm nay đã 60 tuổi, Chủ tịch Hội Khuyến học huyện Hà Quảng. Từ năm 1989 đến nay, có hơn 500 học sinh đến theo học, trong số đó, có hơn 40 học sinh đã theo đuổi chuyên ngành tiếng Trung Quốc, thi đỗ vào các trường Đại học Ngoại ngữ, ra làm phiên dịch, biên dịch và dạy tiếng Trung Quốc. Tiêu biểu như anh Lô Viết Thắng, chị Nông Thị Huệ hiện nay đang học tiến sỹ, thạc sỹ tại Trung Quốc; chị Nông Thị Hạnh là giảng viên dạy tiếng Trung của trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên; chị Hoàng Hồng Biên, sinh viên khoa Tiếng Trung, Đại học Hà Nội được học bổng Khổng Tử, Trung Quốc...
Đặc biệt, có hai chị em ruột là Nông Thị Dung và Nông Văn Dự, xã Sóc Hà, đã học với thầy Đồng từ năm lớp 5, sau này thi vào trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, khoa Tiếng Trung. Hiện, chị Dung là chuyên viên phiên dịch tiếng Trung Quốc tại Sở Ngoại vụ. Nhớ về năm tháng thơ ấu học với thầy Đồng, chị Dung xúc động nói: Ngày còn nhỏ, bố mẹ cho hai chị em đến nhà thầy Đồng học chỉ mong biết nói tiếng Trung Quốc để sau này đi bán hàng ở cửa khẩu. Nhưng khi đến học, được thầy dạy dỗ nhiệt tình. Thầy đã truyền ngọn lửa đam mê học tiếng Trung cho chúng em. Từ đó, hai chị em có động lực trong học tập và quyết định thi vào trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội. Tôi thi đỗ 26 điểm, trong đó, môn Tiếng Trung 8,5 điểm. Tôi mãi biết ơn thầy Đồng đã mở ra mơ ước, chắp cánh tương lai, tri thức cho tôi và nhiều người khác tiếp tục vươn xa.
Còn rất nhiều những học trò thành đạt của thầy mà chúng tôi không thể kể ra hết. Nhưng ở trong anh luôn có niềm vinh quang tỏa sáng được mọi người ghi nhận. Niềm vui được dạy học đã giúp anh vượt lên số phận, có nghị lực phi thường để mở con đường mơ ước, tri thức cho thế hệ trẻ. Hình như những thành công của học sinh đã giúp sức khỏe anh ngày một khá lên, mấy năm gần đây, nhờ chịu khó tập luyện và điều trị, anh đã có thể đi được những bước tập tễnh với chiếc nạng.





