Biên phòng - Là địa phương có hơn 200.000 người dân tộc thiểu số sinh sống, chủ yếu ở những nơi có vị trí chiến lược về quốc phòng-an ninh, nhiều năm qua, tỉnh Bắc Giang đã sớm xác định được các khâu đột phá, nhằm giải quyết những vấn đề khó khăn nhất để tập trung nguồn lực đầu tư và tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu đối với đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh.

Cùng với sự vào cuộc mạnh mẽ, đầy trách nhiệm của lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các ban, ngành chức năng, những năm trở lại đây, cơ cấu nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang chuyển biến theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng chăn nuôi, hướng đến các loại giống chất lượng cao. Một bộ phận lớn đồng bào các dân tộc thiểu số đã tham gia vào sản xuất hàng hóa nông nghiệp tập trung theo chủ trương của tỉnh, xây dựng nhiều thương hiệu nông sản nổi tiếng như: Vải thiều Lục Ngạn, cam canh Bắc Giang, gà đồi Yên Thế, chè Xuân Lương, rượu Kiên Thành...
Đặc biệt, tỉnh đã chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng gắn liền với tập quán sinh hoạt và sản xuất của người dân. Đến nay, hệ thống đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường liên huyện, liên xã trong tỉnh đã cơ bản đầu tư đồng bộ. 100% số xã trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có đường ô tô đến tận bản làng đi lại thuận lợi quanh năm, 98% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia, trên 80% số hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Các công trình hồ đập được đầu tư đã bảo đảm tưới tiêu cho gần 20 nghìn ha đất canh tác hai vụ, chiếm gần 50% diện tích đất canh tác trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Điển hình như huyện Lục Ngạn, nơi có gần 50% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, trong nhiệm kỳ 2010 - 2015, huyện đã xác định xóa đói, giảm nghèo là một trong 5 nhiệm vụ trọng tâm. Huyện cũng xác định muốn giảm nghèo cho đồng bào phải tập trung giải quyết những vấn đề thiếu vốn, thiếu kỹ thuật sản xuất, thiếu việc làm. Chính quyền huyện, xã phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể khảo sát nhu cầu vay vốn của các hộ trên địa bàn và mạnh dạn đứng ra tín chấp để bà con được vay vốn phát triển sản xuất.
Đồng thời, huyện cũng thường xuyên mở các lớp hướng dẫn, tập huấn kỹ thuật, chuyển giao nhiều phương thức canh tác, chăn nuôi mới đạt hiệu quả kinh tế cao, giúp người dân chủ động trong phát triển kinh tế gia đình.
Chính quyền huyện cũng tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư cho nhiều nhà máy, công ty mở rộng kinh doanh, sản xuất trên địa bàn, giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động là người dân tộc thiểu số. Với những quyết sách giảm nghèo quyết liệt đó, bình quân mỗi năm, nông dân toàn huyện Lục Ngạn được vay hàng chục tỷ đồng đầu tư vào sản xuất; hơn 20.000 lượt người được tập kỹ thuật sản xuất, kinh doanh và gần 3.000 lao động, chủ yếu là nông dân tìm được việc làm mới có thu nhập ổn định, bình quân từ 4 đến 5 triệu đồng/tháng. Chỉ tính riêng trên địa bàn 13 xã đặc biệt khó khăn của huyện Lục Ngạn, sau 5 năm triển khai các chương trình hỗ trợ giảm nghèo đã có 20 dự án, mô hình triển khai có hiệu quả cao.
Chúng tôi đến Kim Sơn - một xã còn nhiều khó khăn của huyện Lục Ngạn có 100% là đồng bào dân tộc thiểu số. Trước đây, số hộ nghèo chiếm 78,7%, sau 5 năm được đầu tư giảm nghèo, đến nay tỷ lệ hộ nghèo trong xã giảm xuống còn 47,23%, nhiều hộ thu nhập khoảng 100 triệu đồng/năm. Trên địa bàn xã đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa như cánh đồng sản xuất hạt giống rau cải cúc và lúa lai thôn Đồng Phúc, lạc L14 thôn Tân Lập và Tân Thành; trong tổng số gần 500ha rừng trồng có 28ha rừng keo và hàng chục héc-ta rừng thông đang cho khai thác.
Theo thống kê của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Lục Ngạn, từ năm 2011 đến nay, toàn huyện có hơn 8.522 hộ thoát nghèo. Lục Ngạn được đánh giá là địa phương có tỷ lệ hộ thoát nghèo cao nhất tỉnh và đang phấn đấu đến năm 2020, số hộ nghèo toàn huyện chỉ còn dưới 10%.
Một điển hình cho thấy việc tạo động lực, cơ hội thoát nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số có ý nghĩa rất lớn đối với đồng bào nơi đây là gia đình ông Bàng Quốc Việt, thôn Đồng Rãng, xã Kim Sơn. Mười mấy năm trước đây, dù chăm chỉ làm ăn, song gia đình ông vẫn không thoát khỏi đói nghèo. Đến 2010, sau khi nhận được hỗ trợ từ Đề án giảm nghèo bền vững cho 13 xã đặc biệt khó khăn; Chương trình giảm nghèo bền vững và nhiều chính sách khác do huyện triển khai, kinh tế gia đình ông bắt đầu có sự đổi thay. Gia đình ông Việt nhận được giống cây, con và được tập huấn phương thức canh tác, nuôi trồng mới. Ông đã thực hiện cấy hai vụ lúa và một vụ rau đông trên đất ruộng, cải tạo vườn để trồng cam Canh, bưởi Diễn, kết hợp làm chuồng trại nuôi gà. Đến nay, gia đình ông đã có thu nhập ổn định trên 300 triệu đồng/năm.
Trong nỗ lực giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số của toàn tỉnh, huyện Sơn Động, huyện Yên Thế cũng là địa phương có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Từ nguồn kinh phí giảm nghèo, hai huyện trên đã ưu tiên bố trí xây dựng, cải tạo hệ thống giao thông, thủy lợi, cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn. Sản xuất nông, lâm nghiệp vùng đồng bào dân tộc thiểu số có chuyển biến tích cực. Những giống cây trồng, vật nuôi năng suất cao từng bước được nhân rộng.
Nhờ đó, trên địa bàn hai huyện đã có hàng trăm hộ đồng bào các dân tộc thiểu số sản xuất, kinh doanh giỏi, tiêu biểu như: Gia đình ông Bàn Vũ Quyền, dân tộc Dao, ở xã Dương Hưu và gia đình ông Hoàng Văn Huân, dân tộc Tày, ở xã An Bá (huyện Sơn Động); gia đình anh Lăng Văn Liệu, dân tộc Nùng và gia đình ông Lăng Văn Liệu, xã Tiến Thắng (huyện Yên Thế).
Ông Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch UNND tỉnh Bắc Giang cho biết, thời gian qua, chính quyền tỉnh luôn quan tâm và đầu tư nhiều nguồn lực trong thực hiện chính sách dân tộc, nhất là chú trọng phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao chất lượng đời sống của đồng bào, đi đôi với đó là công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Chúng tôi luôn coi vùng đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi là nguồn lực tiềm năng để phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội. Những năm gần đây, tình hình đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc không ngừng cải thiện, đóng góp tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.
Tuy nhiên, vẫn còn đó nhiều băn khoăn, trăn trở cho hành trình phía trước. Ông Nguyễn Hồng Luân, Trưởng ban Dân tộc tỉnh Bắc Giang nhận định, việc thực hiện các chính sách dân tộc còn một số hạn chế, khó khăn do vốn đầu tư dàn trải, thiếu tập trung, chồng chéo về chính sách hỗ trợ, đó cũng là những việc mà các cấp, các ngành trong tỉnh đang tập trung giải quyết để đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh ngày càng được nâng cao.
Để công tác giảm nghèo đạt hiệu quả, vấn đề đặt ra là cần đầu tư trọng tâm, trọng điểm giảm nghèo cho 369 thôn, bản đặc biệt khó khăn đã được Ủy ban Dân tộc công nhận. Ngoài sự đầu tư theo Chương trình 135 và các dự án, chính sách khác, tỉnh cần tập trung nguồn lực hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn, thủy lợi, điện; hỗ trợ phát triển sản xuất giúp các hộ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cải thiện điều kiện canh tác, để các hộ đồng bào dân tộc tự vươn lên thoát nghèo và làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình.
Ngân An






